Có thể nói, thành tựu về việc dạy và học tiếng mẹ đẻ của Ban biên soạn sách chữ Chăm, của nghiên cứu ngôn ngữ trong những năm 90, với: Từ điển Chăm – Việt, Từ điển Việt – Chăm, Ngữ pháp tiếng Chăm,…nhất là khi bộ ba Văn học Chăm – khái luận văn tuyển của Inrasara được phổ biến rộng rãi, giới sáng tác văn chương Chăm đã có được nền tảng cần thiết cho các trang viết sắp tới của mình. Rồi khi tập thơ đầu tay Tháp nắng được trao Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam vào năm 1997, họ tìm thấy ở đó một chất kích thích lớn.

Nhưng đâu là đất cho các tài năng ấy nẩy mầm và phát triển? Tuyển tập Tagalau có mặt là bởi lẽ đó. Rất kịp thời! 6 năm đi qua, từ khi Tagalau ra mắt số đầu tiên vào mùa Katê năm 2000, nhìn lại, có những thành tựu đáng ghi nhận. Bởi, thế hệ Chăm hôm nay đã biết đến những gì cha ông họ để lại, rút tỉa tinh hoa văn học dân tộc mình, học tập các dân tộc anh em, từ đó thể hiện đầy sáng tạo vào các trang viết.

A.  Chúng ta đã học được gì từ cha ông?

Văn hóa một dân tộc tồn tại ở bản sắc, phát triển ở tiếp nhận và sáng tạo. Nhưng ta chỉ hiểu được bản sắc một cái gì đó khi đặt nó bên cạnh một cái khác/những cái khác. Đâu là bản sắc văn hóa Chăm? Ở lĩnh vực hẹp hơn: văn học chẳng hạn, đâu là cái khác biệt nổi bật của văn học Chăm khả dĩ làm đa dạng thêm nền văn học Việt Nam?

Với văn chương Chăm, có khá nhiều cái khác biệt:

–   Về nội dung-đề tài: 250 minh văn Champa sáng tác bằng cả tiếng Phạn lẫn tiếng Chăm cổ phải được kể đầu tiên. 5 sử thi-akayet có xuất xứ từ/mang âm hưởng Ấn Độ, một sáng tác đặc trưng Chăm, là hiện tượng không có trong văn học sử Việt Nam. 3 trường ca trữ tình nội dung mang chở sự đối kháng quyết liệt giữa hai tôn giáo Hồi – Bàlamôn dẫn đến đổ vỡ tình yêu và cái chết của ba cặp tình nhân, là một dị biệt khác.

–   Còn hình thức thể hiện? Chăm có thể thơ như lục bát Việt mà chúng tôi tạm gọi là lục bát Chăm: thể ariya. Nhưng khác với Việt, lục bát Chăm gieo cả vần bằng lẫn vần trắc, và vần gieo duy nhất ở chữ thứ tư câu tám chứ không ở chữ thứ sáu như trong lục bát Việt. Đặc biệt hơn nữa trong sáng tác, ariya Chăm được sử dụng theo cách đếm âm tiết hay nén âm/tính trọng âm của từ đa âm tiết (như thể thơ Tân hình thức-New Formalism vậy), tùy khuynh hướng sáng tác của tác giả. Riêng thể pauh catwai (biến thể từ ariya), mỗi cặp lục bát đứng biệt lập như một bài thơ hoàn chỉnh với đầy đủ ý nghĩa, được kết nối liên hoàn đến cả mấy trăm câu mà giọng điệu, tư tưởng vẫn thống nhất, hình thức không khác mấy so với Choka (trường ca) của Nhật (Choka là Shika: 5 âm – 7 âm được kết nối liên hoàn).

–   Ngôn ngữ: Người Chăm biết sử dụng chữ viết từ khá sớm. Bia Võ Cạnh (Nha Trang) – năm 192 sau Công nguyên, được xem là bia kí đầu tiên bằng chữ Phạn ở Đông Nam Á. Cũng vậy, bia Đông Yên Châu thuộc hệ thống bia Mỹ Sơn được viết vào cuối thế kỉ thứ IV là minh văn bằng chữ bản địa có mặt sớm nhất khu vực. Ngôn ngữ-chữ viết phát triển thúc đẩy văn học phát triển. Nên, song hành với văn học bình dân: panwơc yaw-tục ngữ, panwơc pađit-ca dao, dalikal-truyện cổ…, là nền văn học viết có mặt từ rất sớm: văn bi ký, sử thi, trường ca, thơ thế sự, thơ triết lý, gia huấn ca… Đại bộ phận sử thi Chăm đã được văn bản hóa. Do đó chúng có khác biệt rất lớn với sử thi các dân tộc Tây Nguyên: tất cả chỉ dồn vào kịch tính, dẫn câu chuyện phát triển.

–   Văn học vừa là nhân vừa là quả của ngôn ngữ-tư duy, cả tư duy bình dân lẫn tư duy bác học (tư duy phức hợp, tư duy trừu tượng, siêu hình, tư biện, suy lý…), biểu hiện ở bề nổi lẫn phần chìm trong mọi khía cạnh, lĩnh vực. Thơ triết lí là mảng sáng tác quan trọng, trong đó Ariya Glơng Anak, Pauh Catwai, Ariya Nau Ikak,.. hầu như được mọi nông dân Chăm thuộc lòng. Là điều khá lạ!

Ba tác phẩm điển hình:

Ariya Bini – Cam dài 162 câu ariya-biến thể nói về cuộc tình một chiều của hoàng thân Cam Ahier với cô gái Hồi giáo đến từ La Mecca, đi qua nhiều vùng đất với những cuộc chiến, chia ly, mất mát. Thời-không gian đan xen, đồng hiện, trùng lắp… Nhân vật thoắt vui thoắt buồn, chợt say chợt tỉnh. Ngôn ngữ hàm súc mà bay bổng, tinh tế mà cuồn cuộn tràn bờ. Kỹ thuật kể chuyện gần với các sáng tác thuộc dòng ý thức-stream of consciousness hiện đại. Một hiện tượng độc nhất vô nhị trong văn học cổ điển Chăm.

Ariya Glơng Anak dài 116 câu ariya-cổ điển Chăm, sáng tác vào khoảng đầu thế kỷ XIX. Đây là thi phẩm triết luận-thế sự đầu tiên, phô diễn bằng thứ ngôn ngữ vừa giàu chất tượng trưng lẫn ẩn dụ vừa mang tính minh xác của lập luận triết học, được xây dựng trên nền xã hội đầy biến cố. Ý tưởng trong thi phẩm khá khó hiểu nhưng đã lôi kéo được bao thế hệ trí thức Chăm đến với nó.

Pauh Catwai với 136 câu ariya-hiện đại mà mỗi câu như châm ngôn, một sấm ngữ ngắn, sắc và sâu, mang chứa nhiều tầng ý nghĩa nhân sinh và thời sự xã hội đầu thế kỷ XIX rã tan nhiều xáo trộn, đảo điên.

Ba tác phẩm như ba ngọn tháp đứng biệt lập trong văn học Chăm. Phân tích đưa ra vài điểm mang tính nguyên lý về các yếu tố tạo nên kiệt tác văn học Chăm ở quá khứ:

–   Nội dung luôn gắn với sinh mệnh, tâm thức dân tộc dù nó có thể thuần nói về tình yêu lứa đôi, triết lý hay thế sự nóng bỏng tính thời sự trong phạm vi một dân tộc, một khu vực nhưng được nâng lên tầm nhân loại, giai độ thế giới.

–   Hình thức (thể thơ, ngôn ngữ, giọng điệu…) đầy sáng tạo gần như đột biến, chưa từng có trước đó. Dù Ariya Glơng Anak mượn ariya-cổ điển nhưng nhịp thơ đi mạnh khỏe, dứt khoát, không lê thê như các sử thi cũ.

–   Dù là sáng tác văn chương nhưng chúng cho ta một tri thức sâu rộng về nhiều lãnh vực. Đọc tác phẩm, người đọc có cảm giác các tác giả là bậc đại trí thức hàng đầu của Chăm lúc đó.

Bản sắc Chăm qua sáng tác hiện đại:

Trước 1975:

Champa đã dựng nên nền văn học truyền thống lâu đời và độc đáo. Nhưng sau hai thế kỉ biến cố lịch sử qua đi, khi Chăm hòa nhập vào cuộc sống chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, nhu cầu sáng tạo và thưởng thức văn học ở cấp độ cao vẫn còn tồn tại nơi dân tộc này. Đó là cái chúng ta vẫn chưa thực sự nhận biết.

Trước 1975, phong trào mới manh nha, Chăm có vài người viết bằng tiếng Việt: Jaya Panrang, Huyền Hoa, Jalau, Chế Thảo Lan, …. là thế hệ sáng tác bằng tiếng Việt đầu tiên. Nếu kể luôn âm nhạc, không thể không nhắc đến Từ Công Phụng, nổi bật lên trong giới sáng tác Sài Gòn cũ. Riêng sáng tác tiếng Chăm, Đàng Năng Quạ, Châu Văn Kên, TanTu, Jaya Mưyut Cham,…có vài bài thơ, ca khúc khá sáng giá.

Đa phần các tên tuổi này xuất hiện qua/nhờ sự có mặt của hai đặc san PanrangƯớc vọng. Sau khi đất nước thống nhất, khi 2 nội san này đình bản, tất cả đều im ắng.

Sau 1975:

Mãi đến giữa thập niên 80, Amư Nhân xuất hiện trong giới ca nhạc Việt Nam gây nên phong trào khá sôi nổi. Rồi khi Inrasara với hàng loạt tập thơ ra đời cùng với các giải thưởng văn chương, dân tộc Chăm mới thực sự có tiếng nói trên văn đàn cả nước. Có thể nói, nhu cầu sáng tác và thưởng thức văn chương của Chăm là có thực. 6 năm qua, Tagalau – tuyển tập sáng tác, sưu tầm, nghiên cứu Chăm ra đời đáp ứng phần nào nhu cầu đó. Nó là “sân chơi của những tay viết không chuyên Chăm gặp mặt, trao đổi và thể hiện để cùng học tập, sẻ chia” (Lời mở – Tagalau1). Qua 7 kì Tagalau, vài khuôn mặt mới xuất hiện và khẳng định. Dù Tuyển tập chưa được phổ biến phạm vi rộng lớn, nhưng thực tế nó đã góp được một tiếng nói nhất định.

Điều đáng mừng là người viết Chăm hôm nay biết sáng tác trực tiếp bằng cả hai thứ tiếng: Việt và Chăm. Hiện tượng này làm phong phú lối nghĩ, lối viết của các tác giả dân tộc thiểu số đồng thời đóng góp tích cực bản sắc vào vốn ngôn ngữ-văn chương chung. Đó là một thế hệ biết tiếp nhận, thâu thái các nền văn học mới và dám làm mới.

B. 4 khuôn mặt văn nghệ hôm nay:

Trà Vigia, Yamy – 1957.

15 tuổi đã có thơ đăng ở Nội san Panrang. Thơ Trà Vigia giàu chất suy tưởng, nhiều thể nghiệm mới, luôn tìm tòi bứt phá. Ngôn ngữ thơ anh lung linh mà góc cạnh, các ý tưởng len lỏi bất ngờ vào ngõ ngách tâm hồn con người thời đại:

Gió vẫn thổi về plây
Xóa nhòa dấu chân tha phương cầu thực
Con đường vẫn dẫn về plây
Người vùi say chỉ còn sóng biển thổn thức
Đẩy đưa từng hạt cát làm Ghur
Mở vòng tay gầy guộc khoan dung
Ôm chặt đứa con đi hoang cùng đường trở lại

Nhịp và thể thơ anh liên tục thay đổi, như đang cố vượt con người thi sĩ còn mơ hồ để tìm đến một chất giọng riêng. Chúng ta chờ đợi và hi vọng.

Nhưng có lẽ cái nổi trội ở Trà chính là truyện ngắn, bút kí văn học. Sở đắc bút pháp riêng ngay từ những truyện đầu tiên, là điều ít nhà văn đạt được. Sáng tạo nghệ thuật yêu cầu sức tưởng tượng vượt trung bình. Mặt này, Trà có thừa. Giấc mơ tưởng tượng của Điềm trong Dạ hội thần tiên lạc vào một lễ hội, là chuyện ai cũng có thể nghĩ ra; nhưng cái đáng nói là các chi tiết anh dàn dựng, chúng lung linh nơi lằn ranh giữa thực và mộng, lồng ghép, quấn quyện đến không biết đâu mà lần. Thế mà nó cứ thực, thực còn hơn cái hiện tiền xảy ra hàng ngày xung quanh ta.

Hơn nữa, cái chúng ta cứ than vãn đang thiếu trong văn chương hôm nay là độ sâu của suy tư, đã xuất hiện khá thường xuyên trong các truyện ngắn của Trà Vigia. Nhân vật chính trong Chăm Hari luôn dằn vặt trong cuộc đi tìm một mảnh nguồn cội, Điềm đặt vấn đề về âm nhạc hiện đại trong tương quan của nó với truyền thống, Kaya trầm tưởng về lẽ sống, đạo người (Người đàn bà hát). Tất cả đều bật ra từ những chi tiết rất đắc được cô đúc bằng lối kể chuyện đĩnh đạc.

Tôi gọi đó là tiếp thu sáng tạo.

Jalau Anưk (sinh năm 1975) là khuôn mặt mới mang hơi thở mới vào thơ tiếng Việt. Ngôn ngữ đời thường cùng cách thể hiện hiện đại phơi lộ tâm tình thế hệ Chăm sinh sau 1975: khỏe khoắn, dân tộc mà “không thiếu thế giới”.

GỬI BẠN

Đừng trách tao sao không cùng tụi mày luý tuý men say, hùng hục sức trai tơ bên những ả bắt đầu cuộc đời lúc chiều chạng vạng!
Đừng trách tao sao không chịu soi gương lượm lặt những cọng tóc bạc lấm tấm như những xác vôi vãi bậy dưới chân tường cao ốc phết qua loa!
Đừng trách tao sao không tự thấy mình cô độc quá đỗi, rách túi mà chẳng có gì lọt thỏm bạn đường, ngơ ngác buồn mấy đứa nhỏ xin ăn!
Đừng trách tao! Đừng trách – khi trái đất vẫn còn, lòng người vẫn ấm những mùa đông, tầng ozon vẫn chưa thủng hẳn, tia cực tím vốn chỉ rọi lẻ tẻ xuống đời những mầm mống ung thư! 

Thử ngước lên một lần đi! Thử đi tụi mày ạ!
Trời vẫn còn sao.
Trăng vẫn sáng vằng vặc đấy chứ!
Vui chi một ngày đời! 

Đừng cười tao tụi mày nhé, đừng cười!
Đời là cả một chuỗi ngày dài. Gian nan cùng lắm cũng chỉ là vài đợt Tsunami, động đất, chiến tranh, thù hận, ghét-thương, nghèo khó, cô đơn… 

Cười lên tụi mày nhé!
Hết mùa trăng, sao vẫn sáng bình thường. 

Jaya Hamu Tanran (sinh năm 1958): có lẽ là một trong rất ít người “trẻ tuổi” sáng tác bằng tiếng Chăm, và chỉ tiếng Chăm. Đây là hiện tượng lạ! Trong khi cuộc sống hiện đại lao đi vùn vụt, cuốn con người cuộn xoáy trong nó, Jaya Hamu Tanran vẫn kiên trì và trung thành đứng lại giữa các cuồng lưu ấy.

Cả giọng thơ anh cũng thế: cứ đứng ở đường biên giữa truyền thống và hiện đại. Không quá cũ như các Ariya các thế hệ trước hay ngâm nga, cũng không quá mới như các sáng tác đầy thể nghiệm của nhà thơ chuyên nghiệp Inrasara, thơ Jaya Hamu Tanran có mặt đều đặn từ khi Tagalau ra đời. Đề tài thơ Jaya Hamu Tanran không bao giờ việt vị khỏi sinh hoạt đời thường dân quê Chăm, trường lớp, các em học sinh, tiếng mẹ đẻ, tên làng với tên con sông, ngọn suối…Cùng giọng thơ chân phương xuyên suốt hành trình thơ anh, đủ làm thành một tập thơ bề thế.

Chế Kim Trung (sinh năm 1971): Khi họa sĩ đàn anh Thành Văn Sưởng mất, và nhất là khi tuổi sáng tạo của họa sĩ Đàng Năng Thọ đã đứng bóng mặt trời, những tưởng lãnh vực mĩ thuật Chăm đìu hiu, ai ngờ, một khuôn mặt mới toanh xuất hiện; hơn nữa lại là người nữ: Chế Kim Trung. Đúng lúc và kịp thời!

Tuần tự nhi tiến, miệt mài làm việc, miệt mài học tập và sáng tác. Xóa bỏ rồi vẽ lại. Phác thảo và hoàn chỉnh.  Chế Kim Trung gặt hái từ thành công này đến thành công khác: từ địa phương một tỉnh đến phạm vi cả Khu vực. Từ nhỏ đến tầm tầm và lớn hơn. Từ Tặng thưởng khuyến khích đến Giải thưởng. Nếu năm 2005, nữ họa sĩ trẻ Chăm này được Hội Mĩ thuật Việt nam tặng Giấy khen tại cuộc Triển lãm Miền Đông Nam bộ cho tác phẩm Rija Praung, thì ngay năm sau chị đã đoạt Giải C của Triển lãm cũng tại Khu vực này.

Danh hiệu Hội viên Hội Mỹ Thuật Việt nam (kết nạp chính thức vào năm 2005) của Chế Kim Trung là rất xứng đáng!

4 khuôn mặt ấy đã và đang có mặt trang trọng tại Tagalau!

Như vậy, nhìn cách tổng thể, Tagalau chính là đất cho các người viết trẻ Chăm thể hiện. Ở đó chúng ta còn nhận diện: Bá Minh Trí (đoạt giải thơ Bút Mới lần thứ V của Báo Tuổi trẻ), Huy Tuấn, Trà Ma Hani, Thông Minh Diễm, Thạch Giáng Hạ (nữ, 15 tuổi),.. xuất hiện đều đặn qua mỗi số Tagalau.

Kết luận: từ dân tộc đến hiện đại

Truyền thống, bản sắc có lẽ là khái niệm được sử dụng nhiều hơn cả khi nhắc tới văn hóa, thời gian qua. Nhưng thế nào là bản sắc? Bản sắc có phải quay nhìn lui về quá khứ hay đi giật lùi về nguồn? Còn phải đi tới đâu mới gặp nguồn như là nguồn? Hỏi ngôi tháp Chàm kia có bao nhiêu phần trăm là Ấn Độ, bao nhiêu là Chăm? Nó được người Ấn mang tới hay do một nghệ sĩ Chăm nào đó nổi hứng khênh về, không là vấn đề. Nhưng muốn được là tháp Chàm, người nghệ sĩ đã phá nhiều, rất nhiều (tiếp thu sáng tạo, như chúng ta dễ dãi nói thế). Trong hành động “phá” này, vô thức (bản sắc cũ) và ý thức (tài năng nghệ sĩ) cùng có mặt. Tài năng cá nhân càng lớn thì phần “phá” càng vượt trội. Một khi có đột biến trong sáng tạo, chúng ta gọi đó là thiên tài.

Như vậy, bản sắc chính/đa phần là cái gì đang chuyển động hình thành chứ không/ít là cái đã đóng băng. Mà muốn làm nên bản sắc, con người sáng tạo phải thật sự dũng cảm. Biết và dám khênh về là dũng cảm, dám và biết phá càng dũng cảm trăm lần hơn. Bởi mãi lo khư khư ôm lấy kho bản sắc (cũ), chúng ta đã tự cách li và cô lập mình với xung quanh. Và, chẳng nhích lên tới đâu cả!

Phác nguệch ngoạc vài khuôn mặt tiêu biểu Chăm thời gian qua, nhấn mạnh vào sự sáng tạo cái mới trên nền tảng truyền thống: một bức chân dung còn khá mờ nhạt, dù đây đó đã có vài tín hiệu đáng mừng. Thế nhưng, ở bề sâu lịch sử, tiềm lực sáng tạo của người Chăm rất mạnh. Thế hệ trẻ Chăm hôm nay đã đón nhận được hơi thở đó chưa? Câu trả lời chân thật là: chưa! Trong lúc nhiều chân trời mới đang mở toang trước mắt chúng ta đòi hỏi tầm sáng tạo tương ứng. Trong lúc nhu cầu thưởng thức sản phẩm nghệ thuật ngày càng cao, càng khắt khe của mọi tầng lớp xã hội. Và trong khi hơn lúc nào hết, chúng ta cần có những đóng góp mới bên cạnh cái đã có tự ngàn xưa.

Nhưng dù sao thế hệ sáng tác thơ người Chăm đang trên bước đường định hình.

Hy vọng trong tương lai không xa, bằng sự đầu tư đúng mức vào việc sưu tầm và bảo tồn vốn cổ quý giá, bằng sự bồi dưỡng có định hướng một đội ngũ sáng tạo trẻ, bằng các cuộc tổ chức giao lưu học hỏi giữa các dân tộc anh em và nhất là bằng các nỗ lực cá nhân, tiềm lực sáng tạo sẽ được đánh thức đúng nghĩa. Khi đó, thế hệ trẻ Chăm sẽ có những đóng góp xứng đáng hơn nữa vào nền văn hoá đa dân tộc của Việt Nam.

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)

Thông tin tác giả