Vai trò của các già làng trong xã hội truyền thống Êđê và Mnông ở Dăk Lăk – Linh Nga Niê kdam (nghiên cứu)

       Trước hết nói về thuật ngữ “già làng”: thực tế trong ngôn ngữ của đồng bào các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên không có hai từ này, mà chỉ có các thuật ngữ như chủ buôn, chủ bon, chủ đất, tù trưởng là các Kruanh bon, U ruanh bon (Mnông), Pô pin ea, Pô êlan hoặc Mtâo (Êđê) mà thôi. Khái niệm”già làng” chỉ mới xuất hiện từ sau năm 1954, theo lối nghĩ của một số cán bộ làm công tác vận động quần chúng, hoặc những người sưu tầm văn hoá dân gian truyền thống Tây Nguyên, để chỉ những người cao tuổi được coi trọng trong cộng đồng. Ngoài ra trong các sách nghiên cứu về dân tộc học, luật tục các dân tộc thiểu số Tây Nguyên, hoặc trong một vài tác phẩm văn học viết về Tây Nguyên, còn có người xử dụng khái niệm “đầu làng”, hoặc “thủ lĩnh”, cũng vẫn chỉ là chữ dùng của các nhà nghiên cứu, sưu tầm dân tộc học và các nhà văn.

       Căn cứ vào những tài liệu về hoạt động hành chính tự quản của xã hội Tây Nguyên cổ truyền, hoặc từ thời thuộc Pháp và trong quá trình điền dã sưu tầm, nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy: không chỉ những người già (người cao tuổi) mới được tôn vinh làm người lãnh đạo cao nhất của cộng đồng, mà dù còn trẻ, nếu có đạo đức, sự tài ba, có kinh nghiệm sản xuất, hội tụ đủ tín nhiệm của đông đảo các thành viên trong mọi gia đình (các bếp), vẫn có thể được bầu làm lãnh đạo. Như trường hợp nữ tù trưởng Yă Wam ở Ea Khiết, huyện Cư MGar, tỉnh đăk Lăk, chỉ là người phụ nữ của một gia đình giàu có. Hay tù trưởng Y Thu Khunzunop ở Buôn Đôn, là một Băc Gru (dũng sỹ săn voi) còn trẻ. Hoặc như trường hợp của tù trưởng NTrang Lơng và một số những người em, người bạn đồng trang lứa và đồng thời điểm của ông ta, còn rất trẻ tuổi, và cũng không phải là người nắm giữ các luật tục của cộng đồng, nhưng vẫn đã được các bon bầu lên để lãnh đạo cuộc kháng chiến tự phát chống Pháp.

       Một số trí thức người dân tộc Mnông, Êđê cũng không nhất trí dùng khái niệm trên, vì cho rằng chưa phản ánh đúng thực trạng của vai trò này. Các vị đã đề nghị xử dụng thẳng tiếng Mnông là Kruanh bon và tiếng Êđê là Khoa knâng buôn.

       Tuy nhiên, theo cách hiểu và cách gọi lâu nay trong các văn bản, của các nhà nghiên cứu dân tộc học, thì “già làng” là những vị không chỉ là thủ lãnh, mà là còn là cách gọi chung của tập hợp một số ít những người, đảm nhiệm một chức năng nào đó, được tôn trọng trong toàn thể cộng đồng buôn, bon, plei ở các vùng miền núi. Và thực ra trong ngôn ngữ tiếng Việt, chúng ta cũng chưa thể tìm ra từ nào để dịch cho đúng nghĩa vai trò này. Do vậy, chúng tôi cũng vẫn sẽ sử dụng thuật ngữ “già làng”.

1.     Hình ảnh các già làng trong trường ca-sử thi và chuyện cổ Êđê, Mnông:

       Ra đời vào thời điểm công xã thị tộc mẫu hệ và bộ tộc, chưa hình thành giai cấp, chưa có nhà nước, xã hội tồn tại trong mối quan hệ dân chủ, bình đẳng và mang tính cộng đồng cao; trường ca-sử thi các dân tộc thiểu số Tây Nguyên có thể được coi là những “bộ Bách khoa toàn thư” về xã hội cổ xưa. Bắt đầu từ một thiết chế nhỏ hẹp được gọi là buôn, bon, với sự lãnh đạo của một cá nhân đầu đàn. Trong quá trình phát triển, tự thân nó phải cần phải được mở rộng, bằng cách tập hợp liên minh các bộ tộc, liên kết các tộc người, để hình thành những cộng đồng lớn hơn, thu gom lại được số đông dân cư, lao động và của cải cho các vị đầu làng-thủ lĩnh (Kruanh bon, pô pin ea, mtao). Diễn biến xã hội này không thể tránh khỏi những cuộc tranh chấp giữa các bộ tộc, dòng họ.

       Cuộc đấu tranh sinh tồn ấy, hoàn cảnh xã hội ấy tất dẫn đến sự ra đời của những người anh hùng lãnh đạo cả bộ tộc mình bảo vệ, hoặc khuếch trương thanh thế, đất đai. Lập tức những anh hùng đó sẽ được bộ tộc của mình ngợi ca, tôn sùng, trở thành mẫu người lý tưởng cho cả cộng đồng. Đó chính là cơ sở để trường ca-sử thi (Khan, Ot ntrong) Tây Nguyên ra đời. Hình mẫu những người anh hùng cũng trở thành biểu tượng trung tâm của hệ thống các trường ca-sử thi đó. Kể cả trong ba thể loại sử thi thần thoại, sử thi anh hùng và trường ca về đời sống xã hội.

       Nhân vật trung tâm của trường ca-sử thi Tây Nguyên là những người tù trưởng, tộc trưởng nổi tiếng ở các buôn, bon. Các nhân vật này thường có công lao to lớn, như: hướng dẫn bộ tộc làm ăn để có cuộc sống no ấm, đánh thắng giặc bên ngoài để bảo vệ cộng đồng… Hoặc những người phụ nữ xinh đẹp, đa số là con gái, hoặc chính là những nữ tù trưởng không chỉ giàu có mà còn thông minh. Thông qua những trường ca-sử thi này, chúng ta cũng sẽ nhận thấy vai trò nổi bật lên của các vị chủ bon, buôn-già làng.

Vì là những ước mơ, ngưỡng mộ của cả bộ tộc, nên trường ca-sử thi được lưu truyền bằng trí nhớ tuyệt vời đầy sáng tạo, và truyền miệng trong đời sống dân gian. Đây cũng là kho tàng chứa đựng những tri thức cuộc sống, những kinh nghiệm, vốn liếng văn hoá đã sáng tạo và tích luỹ được qua hàng nhiều đời. Ot ntrong, khan cũng phản ánh mọi khía cạnh cuộc sống sinh hoạt của hai tộc người Mnông và Êđê, từ việc tạo lập làng, đến công việc sản xuất lương thực, của cải, chiến đấu chống lại các thế lực xấu, những cuộc vui hội hè, các nghi lễ.

       Thông qua các Ot ntrong & akhan, có thể thấy rõ vai trò quan trọng của các kroanh bon, Pô pin ea – những người anh hùng-già làng đối với cộng đồng là rất quan trọng. Đây không chỉ là những người đứng ra lập nên bon lan, buôn sang mà còn là những người anh hùng, dũng cảm bảo vệ sự sống còn của cộng đồng, thông minh, thấu hiểu luật tục, quyết định sự tồn tại, công việc sản xuất trong một năm, hay nhiều năm và giữ vai trò hoà giải mọi vấn đề xích mích xảy ra trong cộng đồng của mình. Đối với người Mnông, Kruanh, pô pin ea có thể là người tự xưng, nhưng cũng có thể do cộng đồng lựa chọn bầu ra, trong một xã hội nguyên thuỷ rất dân chủ và bình đẳng. Cũng có thể chỉ là một người nhận nhiều trách nhiệm, nhưng bên cạnh kruanh hoặc Rnút còn có hai người phụ tá điều hành công việc chung là Rnor Rnớp. Có thể thêm một người am hiểu luật tục, giữ vai trò phân giải các vụ vi phạm hoặc xích mích trong cộng đồng.

       Khác với người Mnông, tộc người Êđê có một “hội đồng già làng” (từ dùng của các nhà khoa học xã hội hiện tại), gồm một số những người có chức vị như: tù trưởng (mtâo), chủ buôn (khoa pin ea), người xử kiện (pô pbhiăn kdi), người khấn thần (Pô riu yang), thày cúng kiêm chữa bách bệnh (Myâo)…những công việc quan trọng của buôn làng, đều được mtâo hoặc khoa pin ea mời tất cả đến nhà vị có chức nhiệm cao nhất, cùng bàn bạc và quyết định.

       Hêghen nói “Thời đại anh hùng, cá nhân anh hùng được phản ánh trong sử thi không nhằm mục đích mang lại vinh quang cho cá nhân”. Điều này rất đúng với vai trò của các già làng trong trường ca-sử thi Tây Nguyên nói chung và Ot ntrong Mnông, khan Êđê nói riêng.Trong một xã hội chưa phân chia giai cấp và hoàn toàn bình đẳng, những thủ lãnh hoặc hội đồng già làng này, luôn luôn là những người có trách nhiệm rất cao đối với sự tồn tại sống còn và no đủ, vững mạnh của toàn thể cộng đồng, sẵn sàng xả thân vì cộng đồng.

-      Do giữ vai trò là người sáng lập, nên các làng thường được gọi theo tên của Kruanh bon: Trường ca Cây nêu thần đến rất nhiều bon, đều mang tên của các kruanh, như:

*      Bon Bung kon Lú  (làng của Bung là con của Lú)

*      Bon Dớt kon Sơ  (làng của Dớt là con của Sơ)

*      Bon Dơ kon Ai

*      Bon Yơng kon Srai

*      Bon Tiăng kon Rong….

       Hoặc Bon do những người đàn bà làm chủ (U kruanh bon) cũng mang chính tên họ, như: Bon Lêt kon Jri – Bon của nữ thần Lêt con của thần Jri.

       Đối với người Êđê, đa số các buôn đều mang tên chủ làng, như Buôn Ama Thuột, buôn Yă Wam, buôn Yă Sok Ya, buôn Dam Grung…hoặc các địa danh mang tên con gái người chủ của vùng đất đó (mtao), như núi Hlâm, suối HLeo, sông HNăng, thác HLinh…

       Đây là những chủ làng (kruanh bon, Pô pin ea) nhìn vào thấy khác ngay so với các bếp lửa trong cộng đồng, bởi sự giàu có:

       Nhà của Tiăng: có những bộ chiêng to rộng hơn một sải, cái nhà sàn rộng đến 4 gian. Bon của Ting và Mbong:

       “Đàn trâu xếp nửa bãi cỏ / Chiêng chất nhiều hơn đá

       Người qua lại đông hơn tên ná” – Cây nêu thần

Hoặc nhà Mtao:

       “Chiêng núm đánh đầy gian ngoài

         Chiêng bằng đánh đầy gian trong

         Nhà đầy người hầu trai xinh gái đẹp”- Dam Săn thời thơ ấu

Kruanh, Mtao không chỉ là người dạy làm rẫy, dạy cắm chông giữ làng, giảng những phong tục tập quán, giữ gìn luật tục, mà còn có quyền tối cao quyết định mọi việc:

“Cần nô lệ-sẵn sàng cho nô lệ / Nếu họ cần vài bộ chiêng

Nếu họ cần vài ché Rlung (Loại ché rất quý)

Ta cũng vui lòng tặng” – Cây nêu thần

“Tất cả theo tôi đi làm rẫy

Ai dọn cỏ thì dọn / Ai trỉa hạt thì trỉa

Người trồng bắp trồng dưa thì trồng”- Dăm Săn thời thơ ấu

       Hoặc chỉ định địa điểm sản xuất:

“Bên kia suối rẫy của Tiăng và Tang

Bên này suối rẫy của Lêng và Kong”

       hay trồng trọt loại cây gì:

“Đất khuất gió để trồng dưa / Đất bằng để trỉa bắp

Bờ suối trồng chuối và mía / Vạt bên trái làm rẫy trỉa lúa

Vạt bên phải làm rẫy trồng khoai”- Mùa rẫy Bon Tiăng

       Trong chuyện cổ Thần Nrâng đánh bon Bu Dâp: Kruanh bon là người đứng ra họp bàn tổ chức đi “ăn ong”, quy định những người phụ nữ chửa hoang, hoặc nhà có việc kiêng cữ không được đi theo.

       Hoặc giữ vai trò cúng tế giao tiếp với các vị thần linh,những khi cần cầu khấn điều gì cho cả cộng đồng:

“Tiăng khấn vái để gọi thần lúa xuống      

Gọi thần lúa từ các rẫy cũ

Mời thần lúa xuống ăn thịt dê”- Mùa rẫy bon Tiăng

       Trong chuyện cổ tích Thần Ntôch bị đánh: già làng đứng ra cúng xin các vị thần linh để diệt trừ thần rắn Ntôch, sau đó bày cách cho bà con trong bon lấy vỏ cây làm dây chăng quanh suối, lấy cây độc giã làm thuốc độc đổ xuống suối buộc rắn thần phải bò lên để đánh.

       Kruanh bon còn là người hoà giải những mối bất hoà giữa người của hai bon khác nhau, như trong câu chuyện cổ Thần Nai với Bon Bu Yu: Kroanh của Bon Yang là thần nai đã ngăn cản và khuyên can bon Bu Yu không nên đi đánh nhau với Bon Bu Măng, khi chưa kiên trì đến đòi nợ nhiều lần. Hai bon đã nghe lời, trả xong nợ con voi, hoà giải giữ mối đoàn kết.

       Gặp chuyện vi phạm luật tục thì hội đồng gìa làng Êđê phải họp để bàn cách giải quyết: Khi HBia Linh Pang con người làng trời cố tình lừa lấy anh em cùng dòng họ,mẹ Dăm Kteh Mlan phải mời sang nhà mình:

       “Aê Diê cầm cái giáo, Aê Du cầm cái gươm và cậu Dăm Mli Kma”

       để cùng quyết định hình thức xử phạt:

        “chúng ta sẽ đuổi chúng ra ngoài đảo xa”

                                      Dăm Kteh Mlan

       Gặp việc không hay xảy ra cho bon lan, như trong chuyện cổ tích Vực nước sâu (Mnông): Kruanh phải là người đứng ra lo liệu bàn bạc, bày kế để trai tráng trong làng cứu trẻ con bị thần vực nước bắt.

       Cao hơn, họ là những người dũng sỹ dũng cảm vì cộng đồng: chàng Tiăng trong Mùa rẫy bon Tiăng, đi đánh Sơng và Dong kon Nghe để cứu Lêng. Hoặc Lêng trong Sử thi cổ sơ Mnông đã xuống tận cõi âm, gặp thần Phan để đem linh hồn 5 người anh em về lại trần gian, hay đánh nhau với anh em nhà Roh để cứu người đẹp Hbing. Hay hai anh em Dăm Thi, Dăm Di (cổ tích Êđê Dăm Dí, Dăm Thí) đánh bọn đầu người mình ó cứu buôn làng. Hoặc chàng Y Siêm (cổ tích Êđê) vì Mtao nhát gan, nên đã cùng già làng kêu gọi bà con dũng cảm đánh nhau với lũ diều hâu, được bầu là chủ làng…

       Trong một xã hội chưa phân biệt quốc gia, giai cấp như các công xã nguyên thuỷ ở Tây Nguyên, con người luôn luôn phải dựa vào cộng đồng để cùng tồn tại và tự bảo vệ, vai trò người thủ lãnh đứng đầu là rất quan trọng. Bên cạnh đó, trong văn hoá tâm linh mỗi tộc người, đặc biệt là quan niệm “vạn vật hữu linh”, đa thần của Tây Nguyên, còn có những người giữ vai trò thần quyền và phân xử theo luật tục. Trải qua sự tiến hoá của xã hội, các địa vị này ngày càng được củng cố, chi phối mọi sinh hoạt trong cộng đồng mà kruanh Mnông và hội đồng già làng Êđê là người cai quản.

2.     Ảnh hưởng của các Già làng trong luật tục Êđê và Mnông cổ truyền

       Người Êđê có một truyền thuyết về luật tục như sau: khi con người bắt đầu sống tập trung đông đúc thì có một loài chim được Yang phân công chuyên xử kiện, đó là chim brling bo lang (chim khướu). Một hôm gặp Y Loe, là người mắc nợ rất nhiều, chim nói: “Loài người không biết phân xử, để nợ chồng chất lên vai anh. Từ nay phải truyền cho mọi người biết rằng ai giết người phải đền trâu, ai bỏ thuốc độc hại người phải trả mười trâu, kẻ thông dâm phải phạt trâu cúng cho thần. Y Brot trộm lúa phải xử phạt, Y Branh thoá mạ cũng bị phạt vạ. Aê Buôt Kơ Niê, Aê Kê ở buôn Lang là những người hiền, phân xử công minh, các tù trưởng, các già làng phải học hỏi, bắt chước kẻo các thần linh trừng phạt”.Từ khi xảy ra nạn hồng thuỷ, loài chim ấy không biết nói nữa, việc xử phạt trong buôn làng từ đó do các pô bhiăn kđi, già làng có uy tín giữ gìn và thực hiện phán xử.

Hầu như tất cả các dân tộc thiểu số trên dãy Trường Sơn-Tây Nguyên, đều có bộ luật tục riêng của mình, nhằm duy trì sự tồn tại, nhỏ là của dòng họ, của buôn, bon, lớn là của cả bộ tộc.

Người Mnông có plát dôih

Người Êđê có bhiăn kdi

Người Jrai có tơ lơi djuat

Người Mạ có ndri

Người Bana có hlabar

Người Răglây có adat mucar…

       Về bản chất, luật tục các dân tộc Tây Nguyên không giống với luật của phương Tây, mà có phạm vị rộng hơn, liên quan tới cả luân lý, đạo đức, phép ứng xử. Luật tục mang tính dân chủ và tính giáo dục rất cao. Do các tinh hoa của toàn thể cộng đồng xây dựng nên, truyền miệng từ đời này sang đời khác, từ vùng nọ sang vùng kia. Người đứng ra căn cứ vào luật tục để phân xử cũng do nhân dân bầu chọn, hình thức thưởng phạt công minh, tuỳ theo mức độ nặng nhẹ của việc vị pham, nó đủ sức mạnh để mọi người, kể cả các chủ làng-kruanh bon-ptao-mtao…phải tuân thủ nghiêm ngặt.       

       Như đã nói ở trên, luật tục (plat kdôih, bhiăn kdi) trong xã hội Mnông và Êđê cổ xưa cũng truyền miệng từ đời này sang đời khác. Thường do những kroanh bon, hoặc pô pin ea thông minh và am hiểu nắm giữ. Cũng đôi khi Mtao hoặc Pô pin ea – người kế tục ngôi vị đầu làng theo sự chuyển giao của dòng họ – còn trẻ tuổi, có sự thông minh, dũng cảm, điều hành được công việc sản xuất và chiến đấu giữ làng, nhưng còn thiếu sự am hiểu luật tục, thì vai trò pu plat kdôih, Pô bhiăn kdi, sẽ do một người nào đó trong bon, hiểu biết, thông thạo các điều khoản trong luật tục sẽ được lựa chọn, để làm người phân xử, hoà giải bên cạnh tù trưởng.

       Bộ luật tục Êđê do Viện Văn hoá dân gian sưu tầm, nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 1996, có 11 chương, 236 điều. Bộ luật tục Mnông xuất bản năm 1998 có 8 chương, với 215 điều. Nội dung đều gồm các quy định những tội vi phạm và việc xét xử, xoay quanh các mối quan hệ cộng đồng, phong tục tập quán, hôn nhân và quan hệ nam nữ, quan hệ gia đình, quan hệ sở hữu và về việc xâm phạm thân thể người khác. Để đảm bảo sự tồn tại vững mạnh của bon lan, luật tục có hẳn một chương quy định về nghĩa vụ mang tính ràng buộc của cộng đồng đối với kruanh, pô pin ea – thủ lĩnh và ngược lại, nghĩa vụ của thủ lĩnh đối với cộng đồng.

-      Trong trường hợp cần thiết vì một lý do nào đó phải lựa chọn bầu người làm chủ làng (ví như cần đi đánh nhau với một bộ tộc khác, mà kroanh bon không còn đủ điều kiện sức khoẻ, tuổi tác để lãnh đạo…), luật tục Mnông yêu cầu cộng đồng phải cân nhắc để chọn những người:

“Trong sạch, hiền lành / biết thương dân làng

 làm việc đứng đắn / giỏi giúp đỡ  dân làng”

“Săch nuĩh kloch ueh rmên

Săch nuĩh sõng klâng yô non lan

Săch nuĩh rmên kan sõng ma bon

Săch nuĩh blau nao yok bon lan”

       Không nên chọn những người:

“Ham như nai ăn trái / ham chồng như đàn bà goá”    

(Lơi nư lữ jun tỡi ma play / Tuay nrô ma klô tư lư)

       Vì như thế sẽ “làm hại bon lan, có tội với làng” (Tih săch kruanh bư rai bon lan)

       Luật tục Êđê cũng nêu rõ phải thận trọng lựa chọn xem:

        “Ai là người xứng đáng làm cây đa đầu suối”

       (Ti be rong bi khăp, anăp ciăng kơ mnút ko ea, hra ko buôn)

       Luật tục quy định phải có thái độ tôn trọng với chủ làng: Nếu có việc gì chưa nhất trí, có thể “hai bên gặp nhau cứ cãi” (Â tâm nto nke lơ djơr) không được:

“thuốc con ếch chớ có thuốc lén,

thuốc con cá chớ có thuốc ngầm”

(Krau kit lơi an krau ngâm / Lah mâu ntoh nau na nể.)

                   Luật tục Mnông

“Có cây đa thì phải hỏi cây đa

Có cây sung thì phải hỏi cây sung”

(Mâo mnut, nu amâo êmuh mnut

 Mâo hra, nu amâo êmuh hra)

                             Luật tục Êđê

       Nếu vu cáo chủ làng những việc không đúng sự thật còn bị phạt nặng:

“Nó phải lọc cho nước trong lại

Phải thông báo bằng lợn bằng ché

Phải  có rượu báo với bon lan”

(Ân păng kuaih dăk raih / Sur lng, yăng lih

Nrăch du yăng ma kaih bri bon)

                             Luật tục Mnông

“Như con heo hiến sinh phải chết

như con trâu hiến sinh phải chết”

(Anăn mâo kđi kơ nu prong / Un rih jih asei, kbao rih jih asei)

                             Luật tục Êđê                 

       Lại càng  không được hăm doạ, hay dùng vũ lực đối với chủ làng,                   

“Đánh thủ lĩnh như đánh mẹ mình

Đánh người già, đánh người lớn, đánh già làng

Tội không ngóc đầu lên nổi”       

(Lơh me te nrõng, glõng si lung

Tap kuăng, tap ranh, lơh kruanh

Bũn bap rap ji)

                             Luật tục Mnông

       Của cải của Kruanh không được đụng đến, vì như thế sẽ là lấy trộm. Khi ấy sẽ phải:

“Thông báo cho dân làng biết / Của một phải đền bằng hai

Gây thương tích phải lo cứu chữa”

(Chhntõ đang rlung khuch ndơ

Prik bok mham kleng / Săm jan ran bal)

       Nếu bị bắt quả tang xúi giục người không tuân lệnh kroanh bon, hay thông đồng làm hại, không giúp đỡ, hoặc ngược lại đút lót cho thủ lĩnh để làm lợi cho mình:

“người đó phải chịu tội nặng / Con gà của nó phải nướng trước

Trâu bò của nó phải chém trước “.

(Djăr păng gũch bah lũr nê mơ

Sũr păng gũch bah bok nê mơ / Nrôk  rpu te bah jon)

       Sau đó mới có sự bàn bạc để giải quyết, xử lý, hoặc thông cảm. Rồi mới “có tình thương, có sự giúp đỡ”(ri mơ klăng dông klăng sah bah kơi)

       Có kẻ nào bạo gan giả làm kruanh để quấy nhiễu dân làng, sẽ “phải

có lợn tạ lễ cho làng” (Suh mbraih bri mbaih bon)

       Già làng là những “người sống lâu bằng thân” (bu ranh têh ơm ban brah), nên “Không cãi lời được” (mâu dơi rlau nau vay bu ranh). Nếu:

“Người già bảo mà cả / Người già bảo mà lì

Người già dạy mà không nghe”

(Bu ranh đă rplang / Bu ranh sang rli / Bu nti rsua lơi)

sẽ phải:        

“Có gà có lợn / phải bưng rượu xin lỗi”

(Sũr bliăr djăr năr / Nrănh chut dăn nau ranh)

       Về phía kroanh bon-thủ lĩnh-già làng cũng có những quy định nghĩa vụ riêng đối với cộng đồng. Trước hết là trách nhiệm chăm sóc giúp đỡ cho các thành viên trong cộng đồng trong bất cứ một khó khăn nào mà họ gặp phải:

“Bị cháy nhà phải giúp / Bị nước trôi phải giúp

Có nợ phải cho mượn trả / Bị lạt muối cũng phải giúp.”

(Kõ ũnh sa kơl raih / Kõ dak bũk kơl raih

Kõ dôih lah kơl jan / Kuăng ji ngot săm nta)

       Phải thật công tâm, bình đẳng không phân biệt đối xử trong mối quan hệ với tất cả mọi người:

“Đối xử cho thật công bằng / Đừng để người cao người thấp

Đừng để người giàu người nghèo

Phải  hoà nhã vui vẻ với bon lan

Phải  đứng vững giữa hai hòn đá”

(Bă ma ũch lơi bă ma ách / Bă ma rach bă ma rom

Rtũk kon sũr ma play mlo)

       Kruanh cũng không được cậy quyền thế “cứ sai là hét, cậy lớn áp bức”, mà:

       “Không nên to tiếng /  Không nên la lối

       Không nên đàn áp

       (têh bâr kit sit / Hit bâr kít sang / Hang bâr klang bung)

       Ngưòi đầu làng tốt là người:

“Có việc gì cũng phải bàn với nhau

Có việc gì sai chỉ bảo cho nhau

Làm như vậy không ai thắc mắc”

(Ching mâu rĩng du nar / Gong mâu rĩng nrĩng du nar

Ta ri vĩ tanh nir su reh)

       Luật tục cũng chê trách và khuyên răn và cảnh báo những việc không nên làm đối với  những Kruanh bon độc đoán bất tài:

“hàng ngày cứ hét cứ la / cứ buông nhưng lời khó nghe

thấy rlung tốt  muốn lấy không….”

(Dul păng tể ta pêh nrông / Dul păng tể ta klõng bôch kôk

Păng kơnh pêh bu yung)                 

       Mặc dù là người đứng đầu bon lan, có quyền lực tuyệt đối, nhưng nếu sai phạm các quy định của luật tục, chính kruanh cũng phải chịu sự trừng phạt của cộng đồng, phải  đứng ra chịu trách nhiệm về những việc làm sai trái  của mình, tuỳ theo mức độ lớn nhỏ của sự việc mà:

“Sai bằng lợn phải chịu bằng lợn

Sai bằng ché phải chịu bằng ché”

(Tih dĩng sur kơl ding sur / Tih ding yăng kơl ding yăng)

       Cũng không được lợi dụng quỳên lực để ăn hối lộ của những kẻ phạm tội lỗi, không che dấu cho những người vi phạm luật tục, không dấu giếm các vụ tranh chấp trong cộng đồng. Làm  như vậy thì:

“Sẽ là tòng phạm / tất nhiên phải chịu đền thay

nợ nần phải chịu trả thay”

(Jêng geh dôih nre / Unh hêu ân păng pâm

Dak hêu ân păng pất) 

       Trong mối quan hệ với các bộ tộc khác, không phải cứ thấy họ giàu có hơn là có quyền đánh nhau để tranh giành của cải, đất đai. Nếu có sự bất hoà giữa hai làng, trước hết cần phải “gặp nhau một ngày, cùng nhau phân bua”, Kruanh muốn gây chiến cũng phải có lý do chính đáng, mới nhận được sự ủng hộ của cộng đồng, để tránh những trách nhiệm hình sự về sau này “ta mất công phải trách lẫn nhau”. Những sai lầm của kruanh bon trong khi lãnh đạo bon lan, có thể dẫn đến tình trạng dân bỏ theo thủ lĩnh khác:

“Họ bỏ đi như con trâu hoang / Họ phải tìm nơi khác để tựa”

(Nyuă rpu lêng lũng lơng / Du bu nuih lêng lũng long)

       Thông qua những điều quy định về vai trò của kruanh bon và cộng đồng đã trích dẫn ở trên, có thể thấy rõ vai trò của kruanh bon-già làng có vị thế đáng kể trong đời sống xã hội MNông. Ngoài ra, như đã nói ở trên, xuất phát từ quan niệm “vạn vật hữu linh”, nên có rất nhiều những lễ cúng cầu xin các lực lượng siêu nhiên, do đó cũng có rất nhiều các vị thày cúng – người thiêng (thậm chí trong một dòng họ đã có vài người). Người nào càng biết gọi tên (có nghĩa là có tài mời được) nhiều thần linh, càng được cộng đồng tín nhiệm. Nên mỗi khi có việc cần cầu khấn liên quan đến cả cộng đồng, kruanh bon sẽ mời những vị có uy tín nhất cùng tham gia. Những người này ngày nay chúng ta cũng gọi chung là “già làng”.

       Cũng có đôi khi Kruanh bon không phải là người nắm vững luật tục, mà chỉ đơn thuần là chủ đất, sẽ phải có một người chuyên xử phạt (pô plat kdôih) – được coi như một già làng, bên cạnh người điều hành công việc hành chính.

       So sánh với phong tục tập quán của người dân tộc Êđê, chúng ta thấy trong bộ luật tục của tộc người này cũng có những điểm quy định về trách nhiệm giữa các thành viên trong cộng đồng đối với người thủ lĩnh (pô pin ea-pô êlăn) và già làng, ngược lại cũng liệt kê rõ từng nhiệm vụ của người thủ lĩnh và hội đồng già làng đối với toàn thể cộng đồng, khắt khe tương tự như luật tục Mnông vừa nêu trên.

       Chương III trong luật tục Êđê quy định cụ thể 11 điều về trách nhiệm đối với cộng đồng của Pô Pin ea. Người đầu làng sẽ bị coi là phạm tội, nếu gây thiệt hại cho cộng đồng thông qua vi phạm những việc sau:

-      Không chăm lo đến đời sống của cộng đồng.

-      Dấu diếm, ăn hối lộ bưng bít cho những người và sự việc xấu xảy ra.

-      Không có nguyên nhân gì mà gây chiến, chiếm dân, chiếm đất của làng khác.

-      Lợi dụng chức quyền chà đạp hoặc làm điều oan uổng cho dân…vv…

       Trách nhiệm của họ là:

“Gốc bí mà khô thì phải tưới,

nếu còn non phải ngắt bớt mầm,

nếu ngọn vươn quá cao phải kéo xuống”

(Êduk plei krô, nu tuk ea;

tơdah gỡ mda, nu kti he knắt;

dhê gỡ hriê kơ dlông, nu pah he kơ gú).

       Hoặc

“Khi con đã lớn họ phải dạy.

Khi cháu đã khôn họ phải bảo.

Hễ đứt là phải nối, hễ yếu phải buộc lại cho chắc.

Có bao nhiêu con, bao nhiêu cháu đều phải dạy bằng hết “

(Prong anăk nu mtô,

prong cô nu lac, tloh lo cuê, êhuê lo kbuă.

Đơ mâo anăk mtô, đơ mâo cô lac)

       Chương XI có 8 điều quy định về quyền hạn, nhiệm vụ và quyền lợi của người đầu làng:

-      Phải chăm sóc gìn giữ đất đai, buôn làng, không được để mất đất.

-      Phải dạy bảo điều hay, lẽ phải cho lớp trẻ, bảo vệ truyền thống.. vv…

       Khi được giao trọng trách với cộng đồng, để tạo điều kiện cho thủ lĩnh yên tâm lo việc chung, luật tục cũng quy định những quyền lợi được hưởng của người đầu làng:

“Ai ai cũng phải giúp đỡ đem cho nhiều củi nước,

làm dùm nhà cửa, nương rẫy khi đã muộn mùa màng.

Phải chăm nom khi ốm đau”

(Jih adei tlang yang buôn / jih amuôn adei dum anei,

hmứ knga, jih mnuih mỡng anei kơ adih)

       (Có thể nêu một dẫn chứng về quyền lợi của già làng, như trường hợp già làng Aê Soaih (người Êđê Bih) khoa buôn Plao Xiêng (xã Nâm Ka, huyện Krông Nô) có vợ qua đời trước. Do sự tôn trọng địa vị của già làng, cho nên mặc dù tập tục quy định chỉ chia của cải của người chết theo dòng nữ, nhưng khi bà vợ già làng qua đời, để lại một gia sản lớn so với người trong vùng, gồm: 1 dàn chiêng Lao, 1 con voi, 1 chiếc ching núm và bộ chiêng knă (chiêng bằng) 6 chiếc, trị giá từ 10-16 con trâu. Dù không “cuê nuê-nối dây” nữa, nhưng phía gia đình người vợ và người con trưởng vẫn phải chia của cải cho ông, gồm: một chiếc chiêng Char (chiêng bằng lớn, trị giá trước đây phải đổi bằng 4 con trâu) và 5 con trâu).

       Có nghĩa là trách nhiệm luôn luôn đi đôi với quyền hạn và quyền lợi. Thưởng và phạt cân phân. Sự bình đẳng và dân chủ trong sinh hoạt cộng đồng qua đó được thể hiện rất rõ nét.

       Luật tục Jrai ở các vùng Ayun Pa, Cư Prông, Cư Pảh…cũng có những điều khoản về trách nhiệm của những người thi hành luật tục và cộng đồng đối với các vị chức sắc, đặc biệt là hội đồng già làng.

       Như vậy, trong thời kỳ công xã nguyên thuỷ, xã hội cổ truyền các tộc người Tây Nguyên nói chung, người Mnông và Êđê nói riêng chưa có sự phân hoá giai cấp sâu sắc, sự bình đẳng trong cộng đồng còn là điều đương nhiên, thì vai trò của chủ làng-các già làng là rất quan trọng. Họ vừa đóng vai trò thần quyền, vừa là tập quyền, vừa giữ nhiệm vụ phán xử theo lẽ phải.

       Tóm lại, để duy trì sự tồn tại sống còn của buôn, bon trong xã hội Tây Nguyên cổ đại, các già làng có trách nhiệm trước toàn thể cộng đồng (lấy buôn, bon làm đơn vị cơ sở hành chính):

-      Quyết định công việc sản xuất trong năm.

-      Giao tiếp với các thần linh.

-      Bảo tồn văn hoá truyền thống thông qua các lễ hội.

-      Tổ chức bảo vệ buôn, bon, đất đai và dân cư.

-      Hoà giải và xét xử những vụ việc xảy ra trong cộng đồng.

       Đồng thời với những trách nhiệm phải đảm đương, người đầu làng, hoặc các già làng, những người thiêng này cũng được hưởng một số quyền lợi riêng mà cả cộng đồng có nghĩa vụ phải thực hiện.

       Có một điều đặc biệt là: mặc dù rất nhiều địa danh ở Tây Nguyên mang tên những người phụ nữ (như thác HLinh, sông HNăng, núi HLâm…), với những truyền thuyết về vai trò của các nữ tù trưởng và theo luật tục Êđê và Mnông, quyền lực cũng như của cải và sự nối nòi của các dòng họ đều truyền theo hệ nữ (buôn của Yă Wam, buôn của Yă Sok Ia… ). Nhưng trong toàn bộ những địa bàn đã điền giã, đều không còn thấy xuất hiện một U ruanh Bon (nữ chủ nhân) hoặc Pô elăn mniê nào. Cũng không thấy một người phụ nữ nào được coi là “nữ già làng”. Điều này cũng khẳng định vai trò giao tiếp với xã hội luôn luôn được phân công cho trách nhiệm của người đàn ông.

       Theo thuyết “tiến hoá luận đơn tuyến”, sự phát triển của loài người tiến hành theo trình tự:

*      Thị tộc mẫu hệ – mẫu quyền.

*      Thị tộc phụ hệ – phụ quyền.

*      Công xã nông thôn.

*      Nhà nước sơ khai: văn minh.

       Có nghĩa là mẫu hệ có trước phụ hệ. Phải trải qua từ mẫu hệ đến phụ hệ, mới phát sinh ra nhà nước. Tuy nhiên, nền nhân học mới ngày nay đã chứng minh quan điểm trên là sai lầm. Thông qua những tư liệu điền giã và nghiên cứu trên về vai trò của các già làng trong cộng đồng công xã nông dân nguyên thuỷ, cũng có thể thấy rõ: có nhiều hệ thống thân tộc cùng tồn tại, cũng như mẫu hệ và phụ hệ cùng song song đồng thời phát triển, không có sự trước-sau.Nhưng mỗi tộc người, do chính các nhân sỹ của mình, vẫn bảo tồn được bản lĩnh riêng của dân tộc mình.

       Đặc biệt trong tập quán sinh hoạt của cộng đồng các dân tộc thiểu số Tây Nguyên, mỗi tộc người lại có những phong tục riêng biệt của mình. Ví dụ như các tộc người theo ngữ hệ Môn – Khơmer đa số theo phụ hệ. Trong khi đó, các tộc người có chung nhóm ngôn ngữ Mã lai – Đa đảo lại thường theo mẫu hệ. Riêng người Mnông và Sê đăng lại có sự uyển chuyển hơn giữa phụ hệ và mẫu hệ, bới có thể châm chước tuỳ theo từng hoàn cảnh gia đình.

       Dù là theo mẫu quyền hay phụ quyền, thì trong xã hội Tây Nguyên cổ xưa, các già làng vẫn đóng vai trò lớn lao trong những quyết định liên quan đến sự sống còn của các cộng đồng. Ví dụ như tại bon của NTrang Lơng (Bu NTrang) do Mê Dap nhà giàu làm U Ranh Bon, nhưng bà đầu làng này không phải là ngưòi đứng ra xử các vụ kiện cáo trong cộng đồng, mà cha của NTrang Lơng mới là Pô plat kdôih – người xử kiện của bon. Đồng thời với bà Mê Dap còn có tù trưởng Am Prông – đầu làng của bon Bu Đăk Huôt, cũng là người có uy tín rất rộng rãi trong cộng đồng Mnông. Ông này khi còn trẻ là một Bặc gru (dũng sỹ săn bắt voi) giỏi, khi được bầu làm đầu làng, đã chỉ đạo sản xuất tốt nên bon trở nên giàu có. Sau này, khi bà Mê Dap già yếu, cộng đồng đã bầu NTrang Lơng thay bà giữ chức đầu làng,điều hành mọi công việc sản xuất, dời buôn và lãnh đạo nhân dân.Tương tự như vậy, ở bon Bu Đăk Huôt, Am Pơ Rát con của Am Pơ rông cũng được bầu làm đầu làng sau khi cha đã quá già yếu. Em của NTrang Lơng là Rơ Ong Leng, lấy vợ là con gái đầu làng Bu No, ở rể nhà vợ, sau khi mẹ vợ chết, với kinh nghiệm sản xuất giỏi của mình, cũng được dân bầu làm Kruanh bon.

       Như vậy, bên cạnh nhưng người đầu làng trẻ, bao giờ cũng phải có những bậc cao niên, am hiểu luật tục, biết cách ứng xử cùng điều hành công việc chung. Đặc biệt trong việc hoà giả mọi vấn đề xảy ra trong cộng đồng. Với luật tục làm cơ sở pháp lý, các già làng đã vận dụng rất linh hoạt để xử lý nhiều hình thức vi phạm khác nhau, được “tâm phục khẩu phục”. Điều này không đơn thuần chỉ là sự giải quyết có tình,có lý, mà còn do uy tín cá nhân (sự thông thạo luật tục và sự hiểu biết đối nhân xử thế) của các già làng đối với cộng đồng rất cao, nên tiếng nói cũng mang tính thuyết phục cao.

       Có thể nhận thấy rõ một điều rằng: Mặc dù trong xã hội cổ truyền, trình độ mặt bằng dân trí thấp, không lý giải được những hiện tượng xảy ra trong thiên nhiên, cả tin… nhưng để đạt được địa vị “người thiêng”, hay gọi một cách khác là già làng-kruanh bon, Mtao cũng không phải chỉ là những kẻ giàu có, có địa vị, biết cách làm ăn, mà còn phải có một số phẩm chất khác, như:

-      Trí thông minh, thông hiểu luật tục.

-      Biết cách giao tiếp với các thần linh (mời gọi được nhiều vị).

-      Có mối quan hệ rộng, được những người có địa vị cao quanh vùng kính nể.

-      Biết cách duy trì và củng cố quyền lực.

       Vai trò quan trọng nhất của các già làng giữ chức vụ Plat dôih, bhiăn kdi là phân xử những việc xảy ra trong cộng đồng. Những vụ xích mích trong làng, trong dòng họ, trong gia đình, hoặc vi phạm luật tục…đều đưa đến già làng phân xử. Việc phân xử này bao giờ tuần tự theo ba công đoạn:

-      Nghe sự trình bày của hai bên và các nhân chứng.

-      Phân tích bên đúng, bên sai.

-      Căn cứ vào luật tục quyết định các hình thức xử phạt.

       Các vụ việc đưa đến già làng xét xử thường rất đa dạng, có những việc ngày nay ta gọi là hôn nhân gia đình, có những việc là án dân sự, lại có cả những vụ án hình sự. Đôi khi lại chỉ là những xích mích, bất hoà nhỏ trong đời sống cộng đồng, nhưng đều được các già làng chiếu theo những điều quy định trong luật tục, mà phân xử rất rành rẽ.

       Việc quyết định hình thức và mức độ xử phạt lại bao gồm hai lãnh vực khác nhau:

-      Bên sai phải đền bù hoặc bồi thường cho bên đúng bằng những hiện vật tương đương giá trị.

-      Hai bên cùng đồng thời phải có lễ vật nộp phạt cho cộng đồng, vì đã gây nên những chuyện xấu, làm ảnh hưởng đến trật tự chung của xã hội.

       Mức độ xử phạt và nộp phạt sẽ căn cứ vào lỗi lầm đã phạm phải nặng hay nhẹ mà quyết định vật chất đền bù. Nếu không có điều kiện bồi thường, già làng hoặc có thể giảm nhẹ hình thức bồi thường như trên, hoặc có thể ứng ra cho mượn, sau đó bên bị phải đến nhà, làm việc cho gìa làng để trả lại bao giờ đủ thì thôi.Qua luật tục, thấy nổi bật lên tính giáo dục sâu sắc, thông qua sự tìm hiểu để nắm bắt các tình tiết hợp lý, biết cảm thông và gợi mở con đường cho sự hối cải hoặc sửa chữa sai lầm. Chính vì những cách phân xử có tình có lý như vậy, mà đa số những vụ phân xử đều được các bên và cộng đồng “tâm phục khẩu phục”.

       Tóm lại, trong một xã hội không có giai cấp, mọi người đều phải dựa vào nhau để cùng tồn tại, vai trò của những cá nhân anh hùng dẫn dắt cộng đồng là vô cùng quan trọng. Các già làng chiếm trọn vị thế thần quyền, tập quyền và phán xử, tác động tuyệt đối và hoàn toàn đến mọi lối sống, sinh hoạt và tập quán của toàn thể cộng đồng.

       Trong xã hội ngày nay, nếu biết phát huy vai trò của các già làng, có lẽ không chỉ góp phần bảo tồn được văn hoá truyền thống, mà còn có giá trị đối với thành công của mọi chủ trương, mọi cuộc vận động xây dựng đời sống mới ở vùng các dân tộc thiểu số Tây Nguyên.

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>