Ôn lại, nhớ lại vốn từ cũ thế hệ cha ông từng dùng, hay chính thế hệ ta có sử dụng mỗi ngày, nhưng vì ít gặp, ít nói mà ta đã quên. Quên một, hai lần rồi, quên luôn. Từ đó vốn từ tiếng mẹ đẻ của ta ngày càng kém và nghèo nàn đi. “Tiếng Chăm của bạn” có tham vọng nhỏ là giúp gợi nhớ cho nhau vốn cũ. Qua đó, ở mức độ nào đó hi vọng mở ra hướng mới cho công việc tưởng đơn giản nhưng vô cùng cực nhọc, đó là: Làm thế nào để nói tiếng Chăm?

Để tránh nỗi phiền toái nảy ra từ vấn đề thuật ngữ ngôn ngữ học quá nhiêu khê, tôi cố gắng trình bày đề tài này bằng các từ giản đơn nhất có thể, phù hợp với nhiều lứa tuổi, trình độ. Cũng cần nói một lần cho trót: Tôi không là chuyên gia nói cái gì cũng… đúng; càng không có xu hướng ép người khác nghe theo ý kiến mình; chuyên mục “Tiếng Chăm của bạn” chỉ là một gợi mở đầy ngẫu hứng, có thể nêu vấn đề bất kì đâu, để chúng ta cùng suy nghĩ và thảo luận về tiếng mẹ đẻ, cũng như sự tồn vong của nó.

Inrasara 

1. Tiếng Chăm là ngôn ngữ đa âm tiết

Lâu nay ta hay nói từ Chăm có một, hai hay ba lang likuk. Đó là lối nói bình dân, khi tiếng Chăm chưa được nhà ngôn ngữ học phân tích mang tính khoa học. Tiếng Chăm là một ngôn ngữ đa âm tiết (một từ có nhiều ‘âm’) trong đó, từ hai âm tiết nhiều nhất, sau đó là từ đơn tiết; riêng từ ba và bốn âm tiết chỉ có một lượng rất nhỏ và phần nhiều chúng là những từ vay mượn

a. Từ đơn được phân ra làm 4 loại sau:

– Từ một âm tiết (gồm từ đơn tiết và từ hai âm tiết nhưng đã rụng bớt âm đầu).
Ba: mang; maung: nhìn – (a)maik: mẹ; (a)taung: đánh.
– Từ hai âm tiết:
Pakak: chặn; mưnwix: người; tapuk: sách; mưtai: chết
– Từ ba âm tiết:
Ariya: thơ; xaranai: (kèn) xaranai; jalikauw: ong.
– Từ bốn âm tiết. Thường thì bộ phận từ này có nguồn gốc Sanskrit.
Mưhexarai: (giờ) hoàng đạo, tốt đẹp; thampuranư: hoàn thiện hoàn mĩ.

Trong cuộc sống thường ngày, người Chăm nói nuốt âm rất nhiều. Đây cũng là điều thường xảy ra trong ngôn ngữ đa âm tiết. Dẫu vậy, nghe, mọi người vẫn hiểu. Ví dụ: tamưkai (dưa), thường chỉ đọc là “tămkai” hay mưnei (tắm) đọc là “m’nay)… Lắm lúc, nếu trong văn nói mà ta cứ phát âm rõ từng âm tiết một, nhiều khi nghe rất ngây ngô (như trẻ con mới học) có khi không ai hiểu cả. 

b. Từ ghép. Trong tiếng Chăm, có ba dạng ghép chính: ghép song song, ghép chính phụ và ghép phụ nghĩa.

– Ghép song song: là từ ghép trong đó hai từ đơn liên kết với nhau bằng quan hệ song song, bình đẳng với nhau về ý nghĩa
Bbơng hwak: ăn uống; Hia cauk: than khóc; Đom pwơc: nói năng.
Từ ghép loại này thường mang nghĩa khái quát hóa. Ví dụ Pangin jaluk: chén bát, không chỉ có chén và bát, mà còn cả đũa, muỗng…
Về trật tự, hai từ trong từ ghép có thể hoán đổi cho nhau: hia cauk hay cauk hia, bbơng hwak hay hwak bbơng cũng đúng. Nhưng do thói quen, nhiều từ ghép vẫn cố định. Không ai nói jaluk pangin, hay pwơc đom.
– Ghép chính phụ: là từ ghép trong đó hai từ đơn liên kết với nhau bằng quan hệ chính phụ.
Ikan tathik: cá biển; Rideh asaih: xe ngựa.
Loại ghép này, trật tự từ chính và phụ không hoán đổi với nhau được.
– Ghép phụ nghĩa: là từ ghép trong đó từ thứ nhất được bổ sung hoặc tác động vào từ thứ hai, hay ngược lại.
Siam likei: đẹp trai; Praung inư: to con; Sang kiak: nhà ngói.

c. Từ láy là từ có hai hay bốn tiếng (hình vị), tiếng “láy” lặp lại tiếng chính. Nó lặp lại hoàn toàn hay chỉ lặp lại một phần.

– Láy 2 tiếng: Praung prơng: to tát; Kahrii kahria: tính toán.
– Láy 4 tiếng: Trun trun tagok tagok: lên lên xuống xuống; Nau nau mai mai: đi đi lại lại.
– Láy bằng cách lặp lại hoàn toàn: Bhong bhong: đo đỏ; Xamơr xamơr: nhanh nhanh.
– Láy một phần: Rami ramik: dọn dẹp; Uk damuk: háo hức.
Tiếng “láy” không có nghĩa khi nó đứng một mình. Ví dụ: “lipih” có nghĩa là “mỏng”; còn “lipi” trong “lipi lipih” thì không nghĩa.
Tiếng “láy” phụ nghĩa làm cho nghĩa mạnh hơn: Praung prơng: to tát; hay làm cho nghĩa nhẹ và đẹp thêm. Ví dụ: “Limơn” là mềm, nhưng khi nói “limi limơn” thì nghĩa đẹp thêm là mềm mại.
“Kalih” là hà tiện, nhưng nói “kali kalih” thành là tiết kiệm.

Tiếng Chăm là ngôn ngữ đa âm tiết, trước kia từ láy ít phát triển (từ láy trong Akayet Dewa Mưno ít hơn rất nhiều so với Ariya Cam – Bini), sau đó khi tiếp xúc với tiếng Việt, ngôn ngữ nói của người Chăm ngày càng xu hướng rụng trọng âm, từ láy càng phát triển mạnh. So sánh ba cuốn Từ điển Aymonier (Aym.), Từ điển Moussay (Mous.) và Từ điển Đại học Tổng hợp (ĐH.) xuất hiện ở ba thời điểm xuất hiện khác nhau, ta nhận ra rõ nhất.  

2. Các biến âm trong âm chính

Thuộc hệ thông ngôn ngữ Mã Lai – Đa đảo, nhưng tiếng Chăm có sự cải biến quyết liệt, rời xa nguồn cội của nó. Khác cả Malaysia, Indonesia… khác cả Raglai, Giarai…
a. Ở đó, sự biến âm trong âm chính (của chữ cái) là một trong những cánh chính yếu. Vì lí do đó, ông bà Chăm đã đẻ ra thêm 4 chữ cái để tiện ích cho biến âm này.
Hệ thống chữ cái vay mượn chữ Sanscrit có:
K – Kh – G – Gh – Nga
Chăm có:
k A g G z Z…
Ông bà Chăm đã thêm z NGƯK vào hàng đâu tiên, và các hàng sau là: NHƯK, NƯK, MƯK.

Hiện tượng này xảy ra cách nay ít nhất một thế kỉ rưỡi. Bởi cả trong từ điển Aymonier (xuất bản 1906) chúng đã được thể hiện rồi. Nghĩa là rất “truyền thống”. Thời đầu thập niên 60 của thế kỉ trước, trẻ con Chăm học chữ cái Chăm cũng có 4 chữ này. Đến Ban Biên soạn sách chữ Chăm Chăm, 4 chữ này bị loại bỏ.

Ví dụ: Malaysia viết MATA, Raglai ở Việt Nam cũng viết MATA hay MƠTA, Chăm viết MƯTA. Malaysia viết MANUSIA, Raglai viết MANUX, Chăm viết MƯNUX. Rất nhiều trường hợp như thế, nên cần đẻ thêm chữ cái MƯK cho tiện, là vậy. 

Biến âm như thế này thể hiện ở các cặp khác nữa: Ba – Bi, Ga – Gi, La – Li, Ra – Ri, Ka – Ku, …

Ba – Bi

Trong Aymonier, hầu hết ghi hai dạng: tỉ lệ 50-50.
Bikan – bakan; Biđang – bađang; Bilang – balang…
Tỉ lệ ở Moussay là: 30-70 (ba – bi).

Ga – Gi

Aymonier ghi 4 từ GI: gila, gibbak, gilai, gita; còn lại là GA.
Moussay ghi 12 từ GI: gilam, gilơng, ginwơr, ginuh, ginum…
Ví dụ NAGARA là tiếng Phạn. Malaysia vay mượn để nguyên dạng mà dùng. Chăm viết thành Nagar, sau viết thành Nưnggar, Nơgar rồi cuối cùng là Nưgar…
Trên Tây Nguyên có Krong Ana, Krong Kano, dịch chính xác là: Sông Cái, Sông Đực. Tiếng Chăm tanauw (đọc tano): đực; inư: cái – Ở Ninh Thuận có truyền thuyết Mương Đực Mương Cái). Ana: cái, Chăm đọc thành INƯ.
Hiểu được sự biến âm này, hôm nay nếu có ai viết takuh hay tikuh, girai – garai, pataw – putaw, balan – bilan – bulan… thì không gọi là sai chính tả!

b. Liên quan đến chi tiết còn có hiện tượng biến âm trong âm chính (trong từ) tiếng Chăm. Ví dụ các cách viết sau đều không sai:

LUON: (đọc là lôn) nuốt. Aym. viết ba dạng: _l&N l&@N l&N lwon, lwơn, lwan.
Mous. chọn l&@N lwơn.
BBS chọn _lN lon.

3. Vài từ đặc trưng tiếng Chăm hay bị dùng lẫn

a. TAU và HALEI

TAU là từ nghi vấn chỉ dùng trong việc hỏi về “mục đích” di chuyển:
Có hai mục đích:
Hỏi về nguyên nhân:
Nhu mai tau?/ Nó đến làm gì?
Hư mai tau sang kuw?/ Mày đến nhà tao làm gì?
Câu đầu chỉ diễn tả một ý nghĩa duy nhất là mục đích đến. Hai câu này có thể hỏi:
Nhu mai ngap gait?
hay: Hư mai ngap gait sang kuw?
Nghĩa như nhau, nhưng sự “trả hỏi” nhẹ hẳn đi…
Hỏi về nơi chốn
Amư nau tau?/ Cha đi đâu?
Câu này còn hàm nghĩa: “Cha đi làm gì?” tùy ngữ cảnh lúc người hỏi hỏi: hỏi về mục đích đi hay là nơi chốn đi. Có hai cách trả lời khác nhau là:
Amư nau puh/ Cha đi rẫy.
hoặc: Amư nau dwah kabaw/ Cha đi kiếm trâu.
Câu hỏi về nơi chốn đi có lẽ chỉ là lối nói đặc trưng của Chăm Ninh Thuận và Bình Thuận, vì ở các vùng khác ít gặp lối hỏi này. Người Chăm thường hỏi:
Amư nau hapak? hay Amư nau pak halei?
Cũng có nghĩa là “Cha đi đâu?”

b. DI

Nghe lời bài dân ca được hát rỉ rả trên Đài hay băng đĩa: “Tơl bbuk… tơl bbuk pauh raung, mai hu… mai hu ka urang” (Đến khi tóc vỗ vai, về được cho người), không ít người hiểu biết về tiếng Chăm tỏ rõ sự khó chịu. – Bởi nó quá trật!
“Pauh raung” chả có nghĩa gì cả, vì sai… ngữ pháp. Phải là “pauh di raung”.
Bởi giới từ “di” trong tiếng Chăm vai vế đàng hoàng chớ có đùa. Ví dụ:
Ông bà ta nói “anit gơp”: Thương nhau, nhưng phải là “khap di gơp”: Yêu nhau. Không ai nói “nhu thuw khap kamei pajơ” mà phải là “nhu thuw khap di kamei pajơ”: Hắn biết yêu con gái; nghĩa là: Hắn đã biết yêu rồi, biết hẹn hò hôn hít rồi.
Ariya Glơng Anak viết: “Dơng di pur khing bbơng…”: Đứng ở hướng Đông nhiều lần…
Cũng như “pauh di raung”, nếu bỏ từ “di” đi, người ta vẫn có thể hiểu câu văn trên.
Đó là “di” không ảnh hưởng tới nghĩa. Bên cạnh vô số “di” khác, sự có mặt hay không có mặt “di” sẽ dẫn câu văn biến nghĩa thành khác đi.
“Apan tangin”: nắm tay (đồng đẳng)
“Apan di tangin”: nắm lấy tay (một bên chủ động, một bên thụ động).
Panwơc Pađit Chăm (Ca dao): “Apan di tangin chai dwei”: Nắm tay cối xay kéo…

Do vậy, lối hát, nói và viết tiếng mẹ đẻ của thế hệ trẻ hôm nay rất… sai. Giải quyết tình trạng này thế nào? Buộc họ viết, nói đúng ngữ pháp như cha ông chăng? Tôi đã khệnh khạng làm cụ non thử mấy lần “dạy” họ: “Các bạn hát bài dân ca trên phải có DI, DI, DI mới đúng”. Nhưng chả tới đâu cả. Thế nào rồi họ cứ “bbuk pauh raung…”.

Cánh trẻ cứ tà tà vậy hỏi chớ tiếng Chăm rồi đi về đâu? Nhà ngôn ngữ học Việt Nam danh tiếng là Cao Xuân Hạo đã nghìn lần đấm ngực bứt tóc tay kêu trời là hơn phân nửa tiếng Việt được nói hay đọc trên các phương tiện thông tin đại chúng đều sai… ngữ pháp Việt. Tiếng Việt được dạy từ tấm bé cho chí sau Đại học, được truyền thụ qua bao nhiêu phương tiện mà còn thế, huống chi Chăm!

Mà thế hệ hôm nay nghe đài, đọc báo với xem ti vi chớ có ai ngó ngàng tới mấy cuốn sách dày cộp của ông… Cao Xuân Hạo đâu. Chịu! 

c. Động từ chỉ thao tác “cầm nắm và mang đi”

Động từ chỉ thao tác “cầm nắm và mang đi”. Chăm có:
– Đwa (buk): đội (lu) – phần tiếp xúc là đầu.
– Galơm (lingal): vác (cày) – vật dụng có chiều dài. Phần tiếp xúc ở chính giữa vai.
– Bak (anưk): “vác” (con) – phần tiếp xúc ở ngang bả vai.
– Guy (yaut): gùi (cái gùi) – phần tiếp xúc ở sau lưng.
– Anaung (dhung ia): gánh (thùng nước) – phần tiếp xúc là vai, hai đầu vật mang đi có trọng lượng tương đương nhau.
– Ganiơng (pauk nhjuh): “vác” (bó củi) – phần tiếp xúc là vai, nhưng chỉ phần đòn phía lưng là có trọng lượng. Dường như tiếng Việt không có từ tương đương.
– Cakong (kayuw): khiêng (gỗ) – phần tiếp xúc là vai hay dùng tay nắm, yêu cầu phải có từ hai người trở lên.
– Đung (abauh): bọc (trái cây) – phần tiếp xúc là bụng, vật dụng để bọc là miếng vải hay vật tương đương.
– Pok (xalau lithei): bưng (mâm cơm) – bằng một hay hai tay, hướng đưa về phía trước.
– Giem (pot): cắp (mủng) – dùng một tay, phần tiếp xúc là hông. Tiếng Việt không có từ nào tương đương.
– Tanhjak (tapuk): “cầm” (sách) – dùng một tay, chỉ dùng với đồ vật nhẹ hơn nhiều so với khả năng.
– Tơk (mauw ia): xách (gàu nước) – dùng một hay hai tay, một hay hai bên người; yêu cầu vật dụng có quai.
– Duy (kabaw): dắt (trâu) – dùng tay, yêu cầu vật cần di chuyển có dây buộc.
– Katung (kéo): kéo (xe) – dùng tay, yêu cầu vật cần di chuyển có dây buộc, có hay không khả năng lăn.
– Hwa (rauw): kéo (rò) – như katung, nhưng ở đây tuyệt đối không khả năng lăn.
– Cagaung (talang): tha (xương) – dùng răng, chỉ áp dụng với thú vật.
Muốn tìm và dùng đúng các từ này, chỉ cần thêm Nau (đi) ở ngay phía sau nó là được. Ví dụ: cagaung nau: tha đi, guy nau: gùi đi,…
Có một số từ mang nghĩa sử dụng một bộ phận của thân thể, nhưng do chúng chưa có động tác “chuyển đi” nên chúng không thuộc khu vực này. Ví dụ: Thauw, Pan,…: cầm. Người Chăm không nói: thauw nau, pan nau,…: cầm đi, nắm đi,… (“đi” này mang nghĩa khác).

4. “Xin lỗi” & “Cảm ơn”

“Xin lỗi” & “Cảm ơn” là hai từ thông dụng trong giao tiếp hiện đại. Các bạn muốn sử dụng tiếng Chăm, nên dùng từ nào thích hợp?
a. Ampun hay Ơmpun
Aym. Ampun: pardon, grâce, faveur; pardonner; demander pardon. Từ điển này đưa ví dụ minh họa: Lakuw ampun: demander pardon, nghĩa là “xin lỗi”.
Mous. Ơmpun: “xin lỗi” demander pardon.
ĐH. cũng thế.
Như vậy, tiếng Chăm “xin lỗi” không vấn đề gì cả.

b. “Cảm ơn”?

Các phương án đề ra:
BBS Đwa apakal, sau đó là: ĐWA KARUN.
Thi thoảng có nghe vài người nói: Đwa dhar. Hay mới nhất là Đwa dhar phwơl.
Vậy từ nào thích hợp và tương đối hơn cả?
Chưa thấy bất kì văn bản nào viết, cũng chưa thấy người Chăm nào nói: Đwa dhar phwơl cả. Nên, ta chỉ xét 3 trường hợp:
– Trường hợp 1. Dhar.
Aym. do tiếng Sanskrit: dhar, dharma: bienfait; mérite – praung dhar – grand mérite: công lao lớn. Mous. bienfait (phước).
Phwơl.
Aym. do tiếng Sanskrit là phala: fruit (năng suất), récompense (phần thưởng), vertu (đức, đức hạnh); convenances (lề thói); service (sự phục vụ).
Chăm còn ghép chữ dhar + phwơl do chữ Sanscrit là dharmaphala thành ra dhar phwơl (“phước đức”) nữa.
Mous. dịch là “phước”, “việc lành” bien, bonne oeuvre.
ĐH. có 2 nghĩa: 1. Năng suất – Padai hu phwơl: Lúa có năng suất. 2. Hiếu, phước, đức.
– Trường hợp 2. Apakal hay Apakar có nguồn gốc upakara của Sanskrit.
Aym. chose, affaire, fait, bienfait; reconnaitre un bienfait – Trong các từ trên, có ngữ nghĩa cần lưu ý là “nhận biết việc lành, ơn phước của người khác”, nghĩa hiếm dùng hơn: “biết ơn”.
Mous. dịch là “vụ”, “việc” chose, affaire.
ĐH. có 2 nghĩa: 1. Việc, sự việc, sự vụ. 2. Công ơn. Từ điển này dẫn minh họa từ Akayet Dewa Mưno: “Mik đwa apakal grơp kamwơn”: Cô [hoàng hậu] mang ơn tất cả các cháu (sau khi chinh chiến trải qua bao nhiêu cơn bĩ cực, cuối cùng đưa Dewa Mưno về tới hoàng cung).
Như vậy, từ đwa apakal đã có trong văn bản cổ Chăm.
– Trường hợp 3. Trước khi bàn về trường hợp 3, ta cũng cần nhắc qua từ đwa uyamưn mà BBS có dùng. Ayamưn hay Uyamưn cả Aym. hay Mous. đều thiếu, dù đã xuất hiện ở câu 2 trong Ariya Cam – Bini:
Kuw ngap blauh ppadơng dom ayamưn
Ta sáng tác (thành thơ) để dựng lên (ghi nhận) bao ân tình.
Karun
Aym. (Fils) unique (con một); don (sự cho, biếu, tặng; tặng vật, quà tặng); faveur (ân, đặc ân).
Từ điển Bố Thuận (tr. 23) Đwa karun có nghĩa cảm ơn.
Mous. thiếu từ này.
ĐH. 1. Ơn, ân huệ – Đwa karun: đội ơn.

Cả 4 từ dhar, apakal, uyamưn, karun đều mang ý nghĩa “công lao”, “công ơn”, “ơn nghĩa” cả. Tất cả đều có thể kết hợp với ĐWA (mang, đội) để tạo từ “hàm ơn”. Xét từng trường hợp cụ thể, ta thấy:

Dhar nên dùng cho công ơn cha mẹ thì hay hơn, bởi nó sâu nặng và kéo dài. Apakal có thể dùng cho nhiều đối tượng, nhưng “công lao, sự việc” đó cũng phải trải qua thời gian dài, công việc nhiều trắc trở. Uyamưn hay Ayamưn, thì chỉ dành cho tình nhân (ân tình)

Vậy thì, KARUN thích hợp hơn cả: – “Cái cho” nhỏ và mang ý nghĩa khiêm tốn hơn (một quyển sách, một món quà mọn hay một lời khen cũng là tặng vật, quà tặng); – Cho và nhận trong thời gian ngắn, người nhận ngay tức thì có thể nói: ĐWA KARUN, hay KARUN, cũng đủ. 

Trong phiên họp ở BBS vào năm 1982, từ đwa apakal hay đwa uyamưn “bị” đưa ra bàn lại, vì nhiều người nghe nó vẫn còn lấn cấn sao ấy. Ông Quảng Đại Hồng (người Vụ Bổn lấy vợ Mỹ Nghiệp) mới nói: – “Hồi tôi còn nhỏ, cha tôi có dùng từ đwa karun để nói tiếng “cảm ơn”, các thầy xét lại thử”. Ngồi bàn họp năm ấy toàn bậc cao niên: Lâm Nài, Lâm Gia Tịnh, Đàng Văn Mão, Qua Đình Bồi… Nhưng hỏi đi hỏi lại, chưa ai nghe tiếng đó cả. Tất cả nhìn nhau im lặng, khi đó tôi mới nói: – “Chữ đó có trong Từ điển Aymonier, quý thầy ạ”. Rồi tôi mang Từ điển ra. Chỉ từ đó đwa karun mới xuất hiện.

Kết luận: Đwa karun đã có người nói (đầu thế kỉ XX), từ này đã xuất hiện trong 3 quyển từ điển (đầu, giữa và cuối thế kỉ XX). Nghĩ là nó có đầy đủ chứng cớ tồn tại. 

5. Nưgar nghĩa là gì?

Vừa qua có bạn trẻ nghe Đài, đã hỏi tôi về nghĩa của từ này. Bạn nói: – “Nưgar” trong tiếng Chăm chỉ có nghĩa là “đất nước, quốc gia” thôi sao? Em thấy Đài Tiếng nói Việt Nam, Ban tiếng Chăm đã giải thích như thế, trong khi theo chỗ em biết, “nưgar” còn nó nhiều nghĩa khác nữa… Anh có thể cho em biết ý kiến.
Dĩ nhiên, khi có sự hồ nghi về ngữ nghĩa của một từ nào đó, thao tác đầu tiên là lật từ điển, phải không?
Nghĩa trong từ điển
– Aym. tr. 243, có năm nghĩa: Nưgar: (skt. nagara) ville (thành phố), capitale (thủ đô), contrée (vùng, miền), pays (xứ, đất nước, quốc gia), État (Nhà nước).
– Mous. tr. 234, có ba nghĩa: Nưgar: nước, xứ (pays); tỉnh (province).
– ĐH. tr. 367, ghi nhận Nưgar: 1. xứ, nước, quê hương; 2. tỉnh, vùng, khu vực.

Như vậy, ngoài nghĩa “đất nước, quốc gia” ra, từ nưgar còn có năm, sáu nghĩa chính yếu khác. Lưu ý là các Từ điển kia đều có công sức đóng góp của các trí thức Chăm hàng đầu thời kì đó. Dẫu sao Từ điển dù được biên soạn kĩ càng đến mấy cũng đâu phải chính xác hết. Thao tác kế tiếp là xem dân gian hiểu thế nào.

Dân gian Chăm:
Nau tơl nưgar Parik: Đi tới xứ Phan Rí.
Pak nưgar Cru jang hu rei: Ở miền đất (vùng) đồng bào người Churu cũng có mà.

 Vẫn chưa tin! Bởi biết đâu câu nói thường ngày cũng có thể được hiểu lệch đi, bởi quần chúng là tập thể cá nhân nhiều trình độ khác nhau, việc dùng và hiểu sai từ là chuyện bình thường. Bước thứ ba để xác mình là lục tìm trong văn bản.

Trong văn bản cổ Chăm:

Ví dụ Ariya Ppo Parơng, hơn 60 lần từ nưgar được dùng, và hầu hết đều mang nghĩa vùng, miền, xứ (nghĩa là tần số xuất hiện nghĩa này vượt trội). Vài ví dụ:

Câu 25.

Nau tơl Phuk En …
Nưgar nan ralo pađiak takik hajan
Yuw pak nưgar Panrang hu halim hu twa.
Đi tới Phú Yên,…
Vùng đó nhiều nắng, ít mưa
Như ở miền Phanrang có mưa có hạn.

Câu 31.

Ka nưgar Bbin Đin Ywơn ralo praung anaih.
Về vùng, miền [tỉnh] Bình Định người Kinh nhiều [cả] lớn lẫn bé.

Câu 108.

Halei dahlak o ka nau bboh tơl
Libik Harơk Kah nan camauh nưgar Hanwai.
Chúng tôi chưa đi tới
Nơi Harơk Kah ở vùng [thành phố] Hà Nội.

Và rất nhiều nữa: nưgar Khan Hwa: tỉnh Khánh Hòa; nưgar Panrang: vùng Phan Rang; nưgar lingiw: xứ đàng Ngoài…

Ariya Ppo Parơng được viết gần 150 năm trước, Hà Nội lúc đó không là thủ đô; nó càng không thể là một “đất nước, quốc gia”, cũng như Phan Rang, Phú Yên, Bình Định,… không là “đất nước, quốc gia”. Như vậy, từ ba nguồn trên, ngữ nghĩa của từ NƯGAR đã rất rõ ràng! 

6. Về thể thơ ariya [lục bát] Chăm

Ngoài thể pauh catwai mà mỗi cặp [lục bát] đều đứng biệt lập như một bài thơ hoàn chỉnh với đầy đủ ý nghĩa, được kết nối liên hoàn đến cả mấy trăm câu mà vẫn thống nhất qua giọng điệu, tư tưởng, hình thức không khác mấy so với Choka của Nhật – người Chăm còn có thể thơ ariya [lục bát] Chăm. Thể thơ này có ba loại chính: loại đế âm tiết, loại đếm trọng âm và loại biến thể. Tạm bàn qua loại thứ nhất: Thể ariya đếm âm tiết. Loại này có mặt trong hầu hết panwơc pađit ca dao và ở các ariya trường ca Chăm.

Ngôn ngữ Chăm thuộc ngữ tộc Nam Đảo, cùng gốc với ngôn ngữ Mã Lai cũng là ngôn ngữ đa âm tiết, nhưng qua quá trình lịch sử, tiếng Chăm đã và đang biến đổi mạnh: Đại bộ phận từ đa âm rụng bớt âm tiết. Ví dụ: Nagara là tiếng Phạn. Malaysia vay mượn để nguyên dạng mà dùng, hiện vẫn còn dùng. Chăm viết thành Nagar, sau viết thành Nưnggar, Nơgar rồi cuối cùng là NưgarManusia cũng thế. Hiện nay người Chăm viết Mưnux. Vân vân…

Trên văn bản là vậy, còn phát âm trong trao đổi thường nhật thì chỉ còn: n’gar, m’nux hay thậm chí gar, nux… Đó là một hiện tượng Bùi Khánh Thế gọi là “trạng thái đơn tiết hóa”.

Hiện tượng đọc gộp (tamưkai thành tamkai dưa hấu), nối và gộp (viết Dewa Mưno đọc thành DwaMưno), đọc lướt (các hư từ một âm tiết) và nuốt âm (trong các từ đa âm), là chuyện xảy ra ở mọi ngôn ngữ đa âm tiết, nhất là khi chúng được thể hiện trong ca khúc hay thơ ca.

Ở thể thơ ariya đếm ấm tiết, người Chăm đếm số âm tiết rất nhất quán. 

a. Câu đầu tiên của năm bài ca dao phổ biến nhất:

Cam saung Bini ke kan
Mu sa karan ia sa bilauk.
Chăm với Bàni đâu khó
Nước thì chung lọ, cùng hạt cát lồi.

Dòng trên 6 âm tiết 5 từ, dòng dưới 8 âm tiết 6 từ. 

Pan di tangin chai dwei
Dơr hai parwei dom dauk ribbah.
Nắm tay xay đẩy tới lui
Nhớ nhé bà sui bao thuở cơ cực.

Ciim đơm di dhan kluw pluh
Ciim nau mưsuh klak dhan mưjwa.
Ba mươi chim đậu trên cành
Chim đi chiến đấu bỏ cành lạnh hoang.

Thei mai mưng deh thei o
Drơh phik kuw lo yaum sa urang.
Ai đến từ phía kia xa
Giống người yêu ta riêng chỉ một người.

Jwai jiong di jơk lo đei
Jiong di kamei jơk siam binai.
Đừng mê kẻ chợ quá nhiều
Mê gái kẻ chợ mĩ miều đẹp xinh. (theo Lưu Quý Tân)

Lưu ý: Về từ ralolo, ba cuốn Từ điển Chăm định nghĩa rất minh bạch: Từ điển Aymonier. lo: beaucoup, bien, plusieurs… có nghĩa là “lắm”. Ông lấy ví dụ: Ralo bbơng lo: maintes fois nhiều lần lắm. Ralo: beaucoup, nombreux, le plus: “nhiều”, “lắm”. Ông ví dụ: Ralo mưh: beaucoup d’or nhiều vàng, lắm vàng. Từ điển Moussay. và Từ điển Đại học. lo: lắm, quá.

Cả ba Từ điển đều lấy ví dụ ralo lo: “nhiều lắm” để minh họa, như có ý tránh cho người đọc sự lẫn lộn này. Ralo là tính từ, thường đứng trước danh từ hay động từ (chỉ số lượng); còn lo là phó từ (chỉ mức độ). Hai từ hoàn toàn khác nhau cả về hình thức lẫn chức năng, vậy mà vẫn có người hay lẫn lộn. 

b. Câu đầu tiên của năm Ariya nổi tiếng:

Ariya Cam – Bini (dòng trên 4 từ 6 âm tiết, dòng dưới 7 từ 8 âm tiết).

Ni ariya ai wak
Twơk ba tabiak piơh ka ra pơng
Đây bài thơ anh sáng tác
Phát hành rộng ra cho người đời nghe

Ariya Xah Pakei
Tabiak di bal La-a
Jauh jiơng yadwa jiơng bbon sa bauh
Ra khỏi thủ đô La-a
Phân thân làm hai thành một ngon đồi

Pauh Catwai
Tabur xanưng twei đơy
Wak pauh catwai twei bauh akhar
Suy tư theo dòng cuộc đời
Viết Pauh Catwai theo từng con chữ

Kabbon Muk Thruh Palei
Kabbon Muk Thruh Palei
Đom blauh kakei piơh ka anưk

Ariya Patauw Adat Kamei
Dak dauk tamuh di tian
Bbut mưk bi-ar twơk ariya

 7. Chăm hay Chàm đúng?

Từ Chăm chính thức được Nhà nước quy định gọi tên dân tộc Cham từ năm 1979. Từ quần chúng đến nhà nghiên cứu, từ nghệ sĩ cho đến giới khoa bảng đều sử dụng tên gọi này trong sinh hoạt, bài viết, thơ văn hay công trình khoa học của mình. Nhưng thỉnh thoảng vẫn có người dùng từ “Chàm”. Bởi hiện tại từ “Chàm” vẫn còn hiện hữu ở rất nhiều địa danh, tên gọi, danh từ riêng. Vân vân… Không hiếm người dùng nó. Có không ít người cho như thế là không phải phép, nặng hơn – miệt thị dân tộc này. Sự thể là như thế nào? Vậy, Chăm hay Chàm, là đúng?

Xưa nay, dân tộc [Cham] này được người Kinh (Việt) gọi bằng Hời, Người đàng thổ (khác với Người đàng quê là người Việt) Chàm hay Chà, chứ tuyệt đối chưa có từ Chăm. Có lẽ vấn đề xuất phát từ bài viết và suy diễn “hợp lí” của một nhà nghiên cứu chưa hiểu thấu đáo vấn đề, nên mới ra nông nỗi!

[Biết thêm: Một vị giáo sư trong một bài viết trên tạp chí Dân tộc học(?) cũng đã rất sai khi cho rằng gọi Rađê là miệt thị người Êđê. Có thế đâu chứ! Người Chăm từ lâu lắm gọi dân tộc này đầy tôn trọng là Rađaiy (phát âm Ra-đe); người Pháp khi đến vùng này cũng đã dùng từ đó: Rhade. Có miệt thị ai đâu].

Có mấy điểm cần minh định lại:

– Cham (hay Cam) là một dân tộc trong cộng đồng dân tộc thuộc vương quốc Champa (hay Campa) cổ. Campa đọc là “cham-pa”. Có nhà viết sử phiên âm Campa là Chiêm Bà. Chúng ta đặc biệt chú ý âm “bà” này.

– CHÀM là do người Việt phiên âm chữ CHAM (hay CAM). CAM trong akhar thrah (chữ truyền thống Cham viết không có dấu âm pauh thơk, c’ đọc là “cham”. Cả người Thái, người Lào hay Khmer cũng đọc là “cham”. Nhưng do đặc trưng giọng nói của người Cham vùng Panduranga (Ninh Thuận và Bình Thuận) phát âm nặng hơn nên CHAM biến thành CHĂM. Do chi tiết này nên từ ba hay bốn thập kỉ qua, một số người Cham viết thêm pauh thơk vào chữ truyền thống thành c# ra chuyện nặng nhẹ, dài ngắn không là vấn đề. Suy diễn sai lệch mới thành ra chuyện.

– Trước 1979, trong vốn từ Việt suốt miền Trung, không có CHĂM mà chỉ có CHÀM là vậy: Tháp Chàm, Cù lao Chàm, giếng Chàm (hay giếng Hời), vàng Chàm,… Ngay cả nơi người CHAM sống hiện nay cũng có mặt cả khối địa danh liên quan đến CHÀM: Phan Lí Chàm, Ma Lâm Chàm, thành phố Phan Rang – Tháp Chàm

– Nhất là trước 1975 người CHAM bản xứ vẫn dùng thuật ngữ này trong mọi lĩnh vực: Trung tâm văn hóa Chàm, Nội san Panrang, tiếng nói của cộng đồng sắc tộc Chàm – Ninh Thuận (do học giả Cham là Thiên Sanh Cảnh chủ bút), Từ điển Chàm – Việt – Pháp, Dân tộc Chàm lược sử (của hai tác giả Cham Dohamide – Dorohiêm). Nguyễn Khắc Ngữ viết công trình dân tộc học có tên Mẫu hệ Chàm. Học giả Thiên Sanh Cảnh có loạt bài nghiên cứu nổi tiếng: “Đám ma Chàm”. Còn tất cả công dân Cham đều được ghi trên thẻ căn cước là Người Việt gốc Chàm. Không ai bảo như thế là phân biệt đối xử gì gì cả!!!

Năm 1994, viết tiểu luận đăng trên tạp chí Văn học: “Ca dao – dân ca, tiếng nói trữ tình của dân tộc Chàm” hay có bài thơ có tên “Apsara, vũ nữ Chàm” (Tháp nắng, 1996), lẽ nào tôi phân biệt đối xử với chính tôi? Cạnh đó, một nhà thơ mang hai dòng máu Việt – Cham đất Tây Ninh còn lấy cả bút danh: Khaly Chàm.

Từ Chiêm cũng thế: lúa Chiêm, “Chiêm Nhân” là bút danh của một nhà thơ Cham, rồi “Hỡi em Chiêm nữ em ơi, nhìn chi chân trời…” (lời ca khúc Đàng Năng Quạ). Vân vân… 

Câu chuyện đủ cho ta thấy, một hiểu biết sai lệch, nhưng khi người phát ngôn là một “nhân vật” thì nó thành ra có trọng lượng. Từ có trọng lượng chuyển sang ban hành quyết định cách nhau không xa. Từ đó “quần chúng” nghe theo chẳng có chi lạ.

Qua dẫn chứng trên, Chàm hay Chiêm có khi còn nguyên bản, còn truyền thống hơn, nên chính xác hơn Chăm nữa. Dù sao, quy định của Nhà nước vẫn phải được tuân thủ. Tuân thủ, nhưng nếu có ai dùng từ “Chàm” trong bài viết, nhất là khi có người viết đúng các tên gọi cũ như Trung tâm văn hóa Chàm, Ma Lâm Chàm chẳng hạn, ta phải chấp nhận mà không biên tập. Bởi sự thể không có gì sai hay miệt thị người Cham cả. 

8. Từ hai cách nói

Bên kia “chẹt” nhà tôi là quán bà Hai Mót. Bà có đứa con gái tên Mót, bạn cùng lứa chị Hám. Một gia đình đàng quê xứ biển qua làng tôi mở quán bán đủ thứ nhà quê cần. Bà tiếng làm ăn có đức, nên mấy bà Chăm thương tình cho không khoảnh đất trong vuông nhà để mở quán. Anh em tôi ấm đầu là cứ qua bà Hai lấy lọ Tiêu ban lộ mà xài. Bà còn có món đặc sản là chả giò chấm tương. Sáng sớm được mẹ cho qua ngồi chung thì sướng hết biết. Bà này quý mẹ tôi ở khoản không hề mua chịu. Nhà tôi nghèo, nhưng thóc giáp mùa vẫn còn lưng lẫm. Mẹ hãnh diện ra mặt về vụ này. Chớ mà như con Hám có bữa nào quào bữa nấy – mẹ dạy em Những thế. Về vụ nói chữ thì mẹ chả thua kém nửa gang tay với bà Hai Mót. Tôi học được rất nhiều từ cặp bài trùng này.

Bên kia rào bà Hai réo con nợ Trời đất quỷ thần ơi, bên này mẹ la chị Hám đáp lễ Lingik tathik yang labang lơy! Bạn trầu cau với nhau, tính tình hạp nhau, cùng la lối om sòm về mỗi vụ như nhau mà hai cách nghĩ xa nhau cả vực thẳm. Chớ đợi dân ngôn ngữ phân tích chi li chẻ sợi tóc làm năm rườm rà lôi thôi, nội chuyện hai bà nhà quê dụng ngữ cũng đã đủ nói lên sự khác biệt về lối nghĩ giữa hai dân tộc vách sát vách bờ giáp bờ.

Lingik tathik yang labang lơy Trời biển thần “lỗ” ơi!

Yang labang. Thần và lỗ. Tại sao không là thần và quỷ hay thần và ma? Có phải chỉ để hiệp vần thôi không? Lingik tathik/ trắc trắc và có vần, yang labang/ bằng bằng và cũng hiệp vần. Trong lúc đó Trời đất quỷ thần chỉ có đối thanh của cặp từ ghép, ngoài ra không gì khác. Nếu vậy thì Chăm yếu quá, chuộng hình thức mà bỏ nội dung sao? Không, ông bà ta đâu đơn giản thế chứ. Labang hang, lỗ là nơi cư trú của ma: Bhut di labang, yang di kalan Ma ở trong hang (lỗ), thần ngự trên tháp. Chăm chết, khi chưa qua đám thiêu thì còn là ma, ma này ở trong hang hay lỗ, chứ không phải trong mộ. Chăm không gọi nơi chôn người chết là mộ (có ụ đất nhô khỏi mặt đất) mà là labang (hang, lỗ). Dùng từ labang vừa hiệp vần vừa tránh dùng từ húy kị là bhut ma hay ajin quỷ. Cầu thần phù trợ ta, cạnh đó ông bà còn viện đến ma quỷ là để tránh cho chúng hại người nữa.

Nhưng tại sao lại lingik tathik trời biển? Người Kinh nhìn lên thấy trời, cúi xuống thấy đất; Chăm thì ngược lại, dưới chân họ là mênh mông biển nước. Chăm có làm ruộng (đất), nhưng đó là cánh đồng miền Trung nhỏ hẹp bốn mùa hanh gió. Tổ tiên ta xưa sống bằng nghề biển, nhờ biển và với biển. Ppo Tang Ahauk còn lấy biển cả làm nơi trú ngụ của mình nữa.

Người có nhà để ngủ
Ông cất chỗ trú giữa đại dương
Người có nhà để ở
Ông lập nơi ngụ giữa đại dương. 

Cuộc sống ông khác hẳn đời một nông dân Chăm mà định mệnh gắn liền với đất, với con trâu và cái cày, khiêm cung, đạm bạc, định và tĩnh. Vì đất liền không phải là quê hương của ông. Một cái nhà: không, một nơi cư trú cũng không nốt. Ông là chủ nhân đồng thời là tù nhân của biển cả. Biển cả là nơi ông sinh ra, tung hoành, tạo dựng sự nghiệp và rốt cùng, biển cũng là nỗi bao la cách ngăn ông trở về với đất, khi chiến cuộc đã vãn. Ông không thể trở về đất liền tìm gỗ to hơn, để đóng con tàu có sức chịu đựng gan lì hơn, con tàu có thể cùng ông làm cuộc vượt đại dương tìm miền đất khác trú thân. Hiện nó đang quá nhỏ bé so với đại dương mênh mông kia. Cô đơn tràn vào tim ông, phủ lên định mệnh ông.

Lingik tathik lơy! Ông thét lớn vào khoảng mênh mông trời biển.
___________
Từ điển được sử dụng: E. Aymonier, A. Cabaton, Dictionnaire Cam ­- Français, Leroux, Paris, 1906; Gérard Moussay, Dictionnaire Cam – Vietnamien – Français, Trung tâm Văn hóa Chàm, Phan Rang, 1971; Bùi Khánh Thế (chủ biên), Từ điển Chăm – Việt, NXB Khoa học Xã hội, H, 1995.

 

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Inra Sara

Thông tin tác giả Inra Sara

Nghiên cứu văn hóa Chăm; làm thơ, viết văn, dịch & viết tiểu luận - phê bình văn học. Hội viên – Hội Nhà văn Việt Nam – Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam – Hội Văn học - nghệ thuật các Dân tộc thiểu số Việt Nam.