1. Về trưng ca Ariya Ppo Parơng

Người Chăm có một nền văn hóa khá rực rỡ, ngoài kiến trúc, điêu khắc với những đền tháp uy nghi đã qua hàng ngàn năm vẫn giữ được vẻ đẹp tráng lệ mà UNESCO đã công nhận là Di sản lịch sử – văn hóa thế giới, vẫn còn một thế giới ẩn khuất khác – đang chờ được khai phá – cũng không kém phần lộng lẫy: Văn học Chăm.

Nhờ sớm có chữ viết (người Chăm là dân tộc có chữ viết đầu tiên ở Đông Nam Á – khoảng thế kỷ thứ IV) cộng với bản tính yêu chuộng văn nghệ, thơ ca, họ đã sáng tác được rất nhiều văn chương đủ thể loại: Sử thi (akayet), trường ca (ariya), tục ngữ ca dao, truyện cổ,… vô cùng phong phú.

Là một dân tộc yêu chuộng văn chương, tiếc là người Chăm đã không nắm được kỹ thuật in ấn thành thử chỉ còn những bản chép tay được lưu truyền lại, không tránh khỏi những sai sót. Có thể cũng có những mất mát do chiến tranh, thiên tai… nhưng đến bây giờ, riêng về trường ca, vẫn còn giữ được một số ariya khá nổi tiếng như: Ariya Bini – Cam, Ariya Cam – Bini, Ariya Xah Pakei, Ariya Glơng Anak, Ariya Twơn Phauw,… Trong đó, Ariya Ppo Parơng được viết vào khoảng 1886-1887, tức là mới cách đây một hai mươi năm.  

Ariya Ppo Parơng là một trường ca rất độc đáo, một thiên ký sự bằng thơ, được kể lại từ một chàng trai Chăm ở Phan Rang, chàng trai này ắt hẳn phải là một người đẹp trai hiền lành và rất mực thật thà, qua giọng thơ chúng ta có thể thấy rõ điều ấy.

Đây là một chuyến đi không chủ định (vì bị bắt buộc đi nên phải đi). Đi trong tâm trạng âu lo và buồn sợ vì không biết điều gì sẽ đến với mình. Đi trong tâm thế bất an vì bỏ lại quê hương, gia đình,  nhà cửa, công việc phía sau và lỡ đi rồi nên ghi chép lại những điều mình đã thấy ở những xứ sở xa lạ để về làm quà cho những người ở quê nhà. Hành trình của chàng trai có thể tóm lược như sau như sau: Phan Rang – Nha Trang – Phú Yên – Bình Định – Quảng Ngãi – Huế – Hải Phòng… Điểm đặc biệt mà chúng ta rất dễ nhận thấy là chàng trai Chăm rất yêu quê hương, đồng tộc của mình. Chàng có lúc hoảng hốt vì đi suốt ngày không gặp ai là Chăm.

Hành trình gồm có tám người: Jadhar Wa (Phan Rí, thư kí), Dah Kauk (thủ quỹ), Jathauw, Ja-aik Ppo (làng Trì Đức), Jamul Cơk (làng Như Ngọc), Jathơng Ong (Chất Thường), Klum Jiep và tác giả cùng đi với người Pháp. Mục đích chuyến đi là để người Pháp thu gom nhặt nhạnh hết những bia đá Champa còn sót lại trên các đền tháp Chăm rải rác khắp miền Trung (Việt Nam) đem về Pháp.

Ngày hai mươi, tháng Một, năm Gà (tức năm Ất Dậu – 1885)
Pháp sai quan bắt chúng tôi đi cùng họ.

Người Pháp bắt họ đi để làm gì? Tìm những đền tháp Chăm, lấy hết những bia đá, nhưng trước tiên là lấy hết sách:

Còn chữ (sách), đi thu gom tất cả các làng
Nó bỏ vào tráp sắt, họ mang đi hết rồi
Chúng tôi càng nghĩ càng buồn lo
(việc họ) thu bia đá trên khắp các đền.

Chúng ta cũng thấy được, qua lời kể của chàng trai, người nông dân (Kinh) thời Pháp thuộc, sống rất khổ sở:

Đàn ông Kinh không có mặc quần
Mặc áo nhuộm lá cây, lưng họ đóng khố
Xứ sở đó người Kinh nhiều như cào cào
Dân nghèo đóng khố, chẳng có mặc quần.

Một chàng trai thơ ngây, từ trong làng bước ra ngoài thế giới, thấy cái gì cũng lạ, thấy cái gì cũng sợ (chứng tỏ bản tính chàng rất hiền lành). Những lời thơ kể về người Pháp: Người Pháp có tốt không? Không hề. Chúng ta hãy đọc những câu sau để biết cách ứng xử của dân một nước có tiếng là văn minh:

Pháp sai thu xếp việc cho nhanh
rồi họ đi thuê tàu về Phan Rang mới hay
Từ bấy đến nay, bọn mày làm với ta
Sao mày chẳng hiểu gì, làm như bọn khờ
Chúng tôi qùy lạy rồi khóc
Họ không nghe, dẫn chúng tôi vào xứ Sài Gòn
Bụng tôi nửa buồn nửa giận
Mỗi lúc trình (là) họ vả, đánh, chửi mắng rằng thằng ngu
Họ chửi những từ độc khiến tôi khóc
… Đủ tháng, lãnh tiền họ lại bạt tai…

Đúng là thói thực dân, thật là cơ cực cho chàng thanh niên trai trẻ, chưa được trang bị thứ gì để bảo vệ mình nên đành phải chịu. 

Tâm tình của tác giả qua ariya:

Ngoài những câu chuyện kể về những điều tai nghe mắt thấy, chúng ta có thể thấy lời trách móc (rất đúng) đối với dân Kinh:

Nước Việt được phù trợ thịnh vượng
Từ núi cao đến đường cái đâu đâu họ cũng đông đúc
Tại sao họ không biết tới thần
Đất nước về họ, sao chẳng lo cúng kiếng
Tháp đền, họ nỡ bỏ hoang
Dấu vết thánh thần, nay tan nát hết rồi
Chúng tôi đi thấy thật ngậm ngùi
Nước mắt không khô trên mũi nhỏ rơi trúng đường…

 Trách móc, chứ không hề oán than. Lời trách cũng rất nhẹ nhàng nhưng làm cho người đọc cảm thấy xót xa, cay đắng.

Đi xứ ngoài thấy toàn người Kinh
Với di tích tháp đền, di tích Chăm

Thật là: Thanh sơn y cựu tại / Kỷ độ tịch dương hồng (“Núi xanh như cũ còn đây / Chiều buông ráng đỏ đã thay bao lần”, hai câu mở đầu Tam quốc chí).

Khi ngắm cảnh tháp đền tuyệt mỹ nên thơ
Lại nghĩ không hiểu sao vua Chăm bỏ xứ ra đi
Vua mất, và dân Chăm không còn quả phúc
Đất đai phì nhiêu mà bỏ nên mới ly hương khổ sở.

Hay:

Đi thấy xứ ngoài tớ buồn
Tại sao ngày xưa (cha ông) rời bỏ để hôm nay khổ sở…

Chúng ta thấy thương chứ không trách chàng trai. Ở tuổi chàng, mấy ai hiểu được thế sự? Lịch sử không được viết trong một ngày còn chiến tranh lại có những quy luật bất khả tri… Còn đối với người Chăm thì sao? Tác giả muốn nói gì?

Giữ nhé, Cả sư bên Chăm với Bàni
Phong tục xưa (còn được) lâu hay mau cũng tại mình
Thành ra nên có lời người khuyên
Giữ gìn truyền thống cha ông, chớ để hư mất.
Lời người (khác) khuyên chứ không phải chàng trai, vì:
Chúng tôi còn trẻ dại chẳng hiểu gì
Lời nhắn nhủ nhớ giữ, phong tục nào hiểu hết
Hỡi tất cả quý bà con
Chứ chúng tôi thật lòng chẳng hiểu tập quán Chăm hay Bàni.

Ariya bật lên được tính cách Chăm qua hình ảnh chàng trai, hiền lành và nghệ sĩ, đôi lúc khá thơ ngây, ngộ nghĩnh. Một chuyến đi dài dù không muốn, qua đó, chàng trai nhìn lại quê hương xưa, đền tháp cũ, có lúc chạnh lòng rơi lệ vì tất cả đã đổi thay, cảnh cũ còn đó mà người xưa  đâu tá? Nhưng với hai câu thơ cuối, độc đáo ở chỗ không phải là lời trách, lại làm người đọc xót xa nhất:

Dân Chăm và Bàni hết hậu vận
Đất nước xưa đã tiêu vong, những ngồi ngó trời …

Theo tôi, đây là hai câu hay nhất trong ariya, mà chỉ những người trong cuộc mới hiểu và thấm thía hết. Bài học về sự chia rẽ, thiếu đoàn kết, không bao giờ cũ. 

2. Nỗi buồn Chăm

Đọc lại lịch sử, có một chi tiết nhỏ nhưng làm tôi chú ý: “Mùa thu, tháng tám năm 1202, vua Lý Cao Tông cho soạn nhạc khúc Chiêm Thành, đặt tên là Chiêm Thành âm. Khúc nhạc rất hay và bi thương đến độ ai nghe cũng rơi nước mắt”.

Như vậy là ngày xưa đã có một ông vua nước Việt mê nhạc Champa, nhưng cũng ngày xưa đó – nhạc Chăm đã rất buồn, buồn đến độ bi thương. Có thể là những nhạc công soạn thành khúc ca xưa còn ghi trong lịch sử, đã trải lòng mình trong thân phận lạc loài xứ người nên viết khúc ca buồn thảm đó chăng? Hay đặc tính buồn là của riêng Chăm?

Ai đã từng nghe dân ca Chăm rồi nghe Nam Ai Nam Bình xứ Huế mới thấy nỗi buồn ấy đã lan tỏa và thấm sâu vào tâm hồn Huế đến nỗi tạo ra tính cách rất riêng cho Huế, kể cũng… hay, mấy ai biết rằng Chăm mới chính là cái gốc cho nỗi buồn man mác của xứ Huế thơ mộng kia? Chăm buồn là phải…

Một bài dân ca Chăm, chắc chắn ai nghe lần đầu cũng giật mình vì cứ ngỡ rằng nhạc Huế, từ làn điệu, câu hát, cách nhả chữ, luyến láy du dương thấm đậm buồn. Bài Thei mai: Ai kia, ai kia đang đứng nơi xa, hỡi người tình. Người tình mà em vẫn đợi, vẫn chờ bao tháng năm… Nghe mà không còn biết đâu là Chăm, đâu là Huế, chỉ biết là một bài dân ca hay tuyệt vời. Nếu là dân ca Huế, chắc đã được phổ biến rộng rãi. Thành thử, Chăm buồn là phải… 

Đó là chuyện âm nhạc, còn văn chương thì sao? Đọc thử Ariya Chăm, hình như cũng không có tiếng cười, hình như cũng chỉ toàn đau khổ, chia lìa. Có rất nhiều caukia mưta (tiếng khócnước mắt). Ariya Bini – Cam đã vậy, Ariya Cam – Bini cũng chẳng hơn, rồi Ariya Ppo Parơng, Ariya Xah Pakei… nỗi buồn chồng chất lên nỗi buồn, những tình cảm éo le, đơn phương, ngang trái. Tắm gội trong dòng văn học lãng mạn và bi thương ấy, Chăm làm sao vui? Nỗi buồn thường nâng tâm hồn con người cao hơn, thánh thiện hơn, biết sẻ chia hơn. Chẳng phải ngẫu nhiên mà dân tộc Chăm sinh ra nhiều thi sĩ, nhiều nghệ nhân, dù ẩn danh nhưng tài năng vô cùng đáng khâm phục.

Gần đây chúng ta có Inrasara, một điều đáng mừng và quá tuyệt vời cho mọi người. Anh như một tinh thể lộng lẫy được đúc kết từ thấm đẫm nỗi buồn ngàn năm của dân tộc mình, để lặng lẽ/ rực rỡ tỏa sáng như viên kim cương lấp lánh trên bầu trời văn học Việt, và tất nhiên, là của Chăm.

Và, tại sao chúng ta không yêu thương và quý mến nỗi buồn Chăm, một nỗi buồn mênh mông tuyệt thế?                    

3. Giải mã hiện tưng Inrasara

Không thể phủ nhận tài năng của nhà thơ Ninh Thuận gốc Chăm này, phải nói rằng thơ của Inrasara có một “ma lực” rất lớn và chẳng phải ngẫu nhiên anh lại đoạt được rất nhiều giải thưởng từ trong nước đến nước ngoài. Giải thưởng, tuy không là một mục đích cuối cùng – của thi sĩ – nhưng nó cũng có thể xem như dấu ấn chứng nhận – của một tài năng thơ ca kiệt xuất Việt Nam đương đại. 

Tiếng kêu thương của một dân tộc bị lãng quên:

Vì nhiều lý do, sử sách Việt vẫn ít đề cập đến Chăm, chưa nhìn nhận đúng sự đóng góp của dân tộc Chăm trong quá trình hình thành nước Việt. Người Kinh hoàn toàn không có một chút hiểu biết gì về một dân tộc anh em rất lớn xa xưa, với bề dày văn hóa đồ sộ, đã gần như hoàn toàn biến mất, dấu vết để lại không còn gì, ngoài những tháp đền hoang phế… Dân tộc Chăm là một dân tộc phải chịu quá nhiều bất hạnh, đất nước họ đã tan biến hoàn toàn trong lòng nước Việt. Inrasara, đứa con của dân tộc bị lãng quên ấy, đã viết những câu thơ xé lòng, những câu thơ có thể khiến người đọc rưng rưng nước mắt.

Những người am hiểu lịch sử mới có thể cảm nhận thơ anh một cách toàn vẹn, chính vì thế, thơ anh lại là một thôi thúc cho mọi người tìm hiểu về Chăm. Chăm là gì? Chăm còn ai? Chăm sống ở đâu? Sống thế nào? Thôi thì biết bao nhiêu câu hỏi cứ liên tiếp gợi mở, và người đọc cứ việc mày mò tìm hiểu để tự trả lời.

Xưa
Dưới cái rây lịch sử khổng lồ
Cha lọt sàng sống sót
Lổm ngổm bò dậy làm người
Một phép lạ…

Người đọc sẽ bị/ được đưa vào một sự ngạc nhiên ngay tức thì. Tại sao lại: cái rây lịch sử? Lịch sử nào? Tại sao lại lọt sàng sống sót? Nhà thơ đưa người đọc liên tiếp vào những bí mật… hãy tự mình khám phá đi, rồi anh sẽ hiểu.

Lịch sử nước Việt là một lịch sử của sự tế nhị, vì có những chuyện chỉ nên hiểu chứ không nên nói, ví dụ chuyện vua Minh Mạng đã làm gì đối với người Chăm? Đố ai biết, có trời mà biết!

Nhưng phải biết – đọc thơ Inrasara – mới thấy hay, mới thấy cái xót xa của một thân-phận-người ở nơi cùng cực xót xa, không còn tiếng nói để góp mặt với cái chung, thân phận ngoài lề, thân phận lãng quên và bị quên lãng. Và, từ bóng tối không lời ấy, Inrasara đã cất cao lời hát kiêu hãnh, bất chấp phận số của định mệnh u tối đã trói buộc bao đồng tộc của anh ngàn đời quẩn quanh trong những plây Chăm bé nhỏ…

Đã đến lúc, chúng ta cần có một cái nhìn trân trọng về văn hóa và dân tộc Chăm, họ chỉ còn lại rất ít người, nhưng đã từng là một nền văn hóa lớn, đã song hành cùng dân tộc Việt ngót hai ngàn năm cùng biết bao yêu thương và đau buồn, nhưng, xin dành trách nhiệm này lại cho các nhà văn học sử. 

                                                                                                   Ban Mê Thuột, 2007. 

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)

Thông tin tác giả Trần Can