I. Từ vựng cũ

     Anh, tôi, các bạn đều là Chăm, cho nên khi đặt câu hỏi: Làm thế nào nói tiếng Chăm?, nó như thể trò đùa. Hơn thế: một cú chơi khăm của định mệnh! Nhưng đấy là sự thật, dù đau lòng mấy cũng phải biết chịu nhịn. Như kẻ viết bài này: nói với các bạn là Chăm, về vấn đề Chăm, nhưng lại dùng tiếng Việt. Bản thân tôi, trong quan hệ thư từ, ngoài vài người thân, còn lại tôi đều dùng tiếng Việt. Vậy mà kẻ ấy được cho là “người lưu giữ văn hóa Chăm” đấy!!!
A.  Những câu chuyện thực:
Chuyện1
. Thuở mười tám đôi mươi, lứa chúng tôi rất khổ sở vì nói không thông tiếng mẹ. Thế là hạ quyết tâm: anh em phân công tôi và Lưu Văn Đảo làm Từ vựng thông dụng Việt-Chăm. Còn anh bạn đề nghị áp dụng một chiêu rất lạ: “yuw panwơc Ywơn lac/như người Kinh nói” vào câu nói khi không tìm được từ Chăm thay thế. Ví dụ: Bilan hadei mưnauk drei tamư “yuw panwơc Ywơn lac” thành phố bac / Tháng sau tụi mình vào “như người Kinh nói” thành phố học.
     Chúng tôi làm vậy một tháng, rồi nghỉ. Một ý hướng tốt nhưng rất khó thực hiện, vì nếu thế thì câu nói kéo dài vô cùng tận. Đúng là nhiệm vụ bất khả thi!
Chuyện2. Ông bạn ở Sài Gòn xa cộng đồng Chăm đến 40 năm, lần đầu về quê đã vô cùng ngạc nhiên. Anh nói: Chú mầy ạ, anh nghe thông báo của Hợp tác xã mà buồn não lòng: “Mưlăm ni vào lúc chín giờ, likău da-a xã viên mai họp păk thang làng. Mik wa phải mai họp ka đầy đủ. Mưdah thay ô mai ô hợp tác xã sẽ trừ công điểm”.
     Anh tiếp: chú mầy phải làm cái gì chớ, không thì Chăm mất hết. Tôi nói: Chứ anh bảo thằng em phải làm gì nào? Năm 78, tôi là kế toán trưởng Hợp tác xã, hàng ngày nghe ra rả bên tai thông báo, buồn lắm chứ. Nhưng bảo họ nói harat/rặt Chăm được không? Sara nói cũng được, nhưng nếu vậy thì bà con nghe lủng chắc? Bất lực!
Chuyện3. Buổi nói chuyện với anh em giáo viên dạy tiếng Chăm vào mùa hè 2002, tôi dùng tiếng mẹ đẻ, dĩ nhiên có độn 20% tiếng Việt. Một nữ giáo viên hỏi: Sao nhà thơ không nói rặt Chăm? Tôi hỏi vặn lại: – Cô có thể nghe hết không? – Dạ không! – Vấn đề của buổi nói chuyện này là chúng ta muốn nghe nội dung hay tập nói chuẩn tiếng mẹ? Vậy thì hãy chấp nhận nói độn đi, bà con ạ. Vẫn bế tắc!
Chuyện4. Thuở học sinh Pô-Klong, chúng tôi hay đùa các bạn Phan Rí (xin lỗi, ở đây không có ý phân biệt mà là nêu sự thật) về tiếng Chăm lai. Nhưng chỉ 20 năm sau thôi, cả 4 vùng Chăm nói độn ngang cựa nhau, không thua kém phân tấc.
     Lại là sự thật khác.
Chuyện5. Cách đây 2 tháng, Đài tiếng nói Việt Nam – Ban tiếng Chăm có phỏng vấn một cụ nông dân trên dưới 70. Kết quả: tiếng Việt độn vào ngôn ngữ nói cao đến chóng mặt: 70%! Nghe Đài, anh bạn tôi than: khó chịu không thể tưởng tượng được. Tôi nói: thì bạn và tôi hàng ngày cũng làm vậy thôi mà!
     Tất cả câu chuyện trên nói lên điều gì?
–    Bất kì người Chăm nào cũng yêu tiếng mẹ, bởi quan điểm dị biệt nên có lối hành xử khác nhau.
–    Thế hệ nào Chăm cũng có người yêu và lo cho tiếng mẹ.
–    Việc tiếng ngoài (bởi chúng ta đang sống tại Việt Nam, nên chỉ bàn về tiếng Việt) xâm thực vào tiếng Chăm là có thực, ngày càng nhanh, không thể cưỡng.
–    Đã có nhiều biện pháp thử nghiệm nhưng nhìn chung, lẻ tẻ và thiếu hiệu quả.
–    Do đó, đôi lúc chúng ta có tâm lí phó mặc.
     Đấy là thân phận của tiếng Chăm hôm nay. Tôi nhấn mạnh: tiếng Chăm sống, chứ không phải tiếng Chăm của từ điển, trong luận án hay sách vở. Mà là tiếng Chăm đang được bà con ta dùng hàng ngày. Nó đang giẫy chết. Nó là thực tế! Do đó, việc đặt câu hỏi mang tính thực tiễn: Làm thế nào để nói tiếng Chăm, là cần thiết – vô cùng cấp thiết. Bài này được viết như là một gợi ý giải quyết câu hỏi bức thiết đó.
B. Tại sao chúng ta ít dùng tiếng Chăm trong nói chuyện, thư từ?
     
Có mấy nguyên nhân:
–    Thói quen. Ngôn ngữ nào mà chẳng do thói quen. Thói quen xuất phát từ làm biếng hàng ngày. Chúng ta biết “rwak”, “bac” nhưng thường xuyên nghe nói “bệnh”, “học”, vậy là ta cứ thế mà nói. Nhanh và gọn, khỏi mất công suy nghĩ cho mệt óc.
–    Vốn từ vựng đã biết là thế, còn những tiếng ta không biết hay biết nhưng ít dùng thì càng tệ hơn. Ví dụ: thư/harak, đoàn kết/gul pataum,… thì ta càng bỏ mặc. Đây có thể đổ lỗi cho: thiếu ý thức ngôn ngữ.
–    Quan điểm. Vài hiện tượng cha mẹ dạy con nói tiếng Việt trước tiếng mẹ, ở các thành phố hay tại quê cũng vậy. Các bạn nghĩ làm như thế con cái sẽ học môn văn tiếng Việt giỏi hơn. Chưa chắc!
–    Làm oai. Thành phần này chiếm tỉ lệ ít. Ít, nhưng có. Dùng nhiều tiếng Việt cao cấp thì oai hơn, chứng tỏ bụng mình chứa nhiều chữ hơn. Như thời Pháp thuộc, người Việt sính tiếng Pháp vậy. Tâm lí chung của nhân loại ấy mà. Vài bạn Việt ở quê mới đi Mỹ vài ba tháng, về đã xổ 20% tiếng Anh [bồi]!
–    Còn nói do thiếu sách vở, thiếu chương trình cấp hai, hoặc học cho lắm Akhar o buk tamư gauk hu / Chữ cũng không bỏ vào nồi được, thì là chuyện khác rồi. Xin miễn bàn.
     Theo tôi, đó là mấy nguyên nhân chính. Chỉ khuôn định trong việc dùng tiếng nói hàng ngày chứ không yêu cầu một khái niệm cao xa hay hàn lâm là: nói chuẩn, nói có nghề.
C.  Làm thế nào để cứu sống nó?
–    Tiếng Chăm trong sách vở là cần, nhưng chưa đủ.
–    Tiếng Chăm do Ban biên soạn sách chữ Chăm sáng tác để đáp ứng nhu cầu thông tin mới, cũng vậy. Dù được dạy trong Trường tiểu học, nhưng khi bước ra ngoài mưa gió cuộc đời: ai dùng chúng? Bà con vẫn cứ “tự do” chứ có chịu nói “eng drei” đâu!
–    Anh em bà con ở xa: Pháp, Mỹ, Mã Lai,…sẽ nói tiếng mẹ đẻ mình như thế nào? Lai độn Mã, Mỹ, Tây,…là chuyện không tránh khỏi. Vậy 50 năm nữa, chúng ta có còn nghe nhau?
–    Ngay tại Việt Nam thôi, Chăm Panduranga đã khác nhiều so với Chăm Miền Tây hay thành phố Hồ Chí Minh. Anh em chúng tôi gặp nhau đã phải dùng tiếng phổ thông để tâm sự.
D.  Thử đề nghị:
–    Mỗi cá nhân tự mình ý thức nuôi dưỡng và dùng ngôn ngữ dân tộc. Viết truyện, làm thơ tiếng Chăm, hay chỉ cần tập nói mỗi ngày.
–    Thường xuyên tập luyện trong gia đình. Môi trường gia đình vô cùng thuận lợi; cha mẹ, con cái cố gắng nói “Chăm rặt”. Mãi thành quen. Ở Sài Gòn, có gia đình vẫn ứng dụng hàng ngày. Gia đình thì vậy, nhưng ngoài xã hội thì sao đây?

–    Việc mở rộng sự “tập nói” ra ngoài là điều rất cần. Bạn bè/ayut cwai nên trao đổi thư từ bằng tiếng Chăm. Viết sai chính tả hay phiên âm khác nhau cũng không sao. Cứ làm đi rồi tự sửa sai. Dĩ nhiên, khi túng, cũng phải cầu cứu đến từ điển.
 
     Tại palei Chăm hôm nay, tình trạng tiếng Chăm nói rất đáng buồn. “Một ít thống kê không chính thức tỉ lệ từ tiếng Việt đang được độn vào tiếng Chăm trong trao đổi thường ngày:
–    Lứa tuổi 20 – 35: 30 – 40%.
–    Lứa tuổi 35 – 50: 25 – 30%.
–    Lứa tuổi 50 – 70: 20 -25%.
–    Lứa tuổi trên 70: dưới 15%.
     Tiếng Chăm ngày càng bị lai tạp và đang đứng trước nguy cơ trở thành tử ngữ”. (Inrasara, Sáng tác văn chương Chăm hôm nay, Tagalau1).
Trà Vigia, hiện cộng tác tại Đài tiếng nói Việt Nam – Ban tiếng Chăm, trực tiếp với bà con, nhận định rằng: nếu số liệu trên đúng hoặc dừng lại mức đó thôi thì còn may. Hôm nay tốc độ suy giảm tiếng Chăm trong giao tiếp hàng ngày xuống cấp không gì cưỡng lại được. Tôi hỏi: vậy bạn làm gì? Vẫn cứ bất lực.

II. Từ vựng mới

    Ở trên chúng ta chỉ bàn về vốn từ cũ, từ vựng đã có nhưng đang/sắp sửa chết; nên mới có Đám tang chữ. Hằng ngày, chúng ta tham dự vào cuộc đưa đám ấy, nhưng rất ít người biết. Hoặc biết, mà vẫn vô tư làm hành vi “cho nắm đất ân huệ”. Tội!
Hôm nay, ta thử bàn về vốn từ vựng mới.
     Cuộc sống thay đổi, nhiều sự kiện mới, khái niệm mới và sự vật mới ra đời đòi hỏi làm khai sinh đặt tên. Cần có ngôn từ mới để đáp ứng những cái mới đó. Giải quyết tình trạng này, có 3 hướng chính:
1.  Nhà khoa học sáng tạo hay dịch từ mới.
     
Ví dụ, thời Pháp thuộc, Việt Nam có Hoàng Xuân Hãn với tác phẩm Danh từ Khoa học. Ông làm công trình này lúc tuổi còn rất trẻ. Ông lấy lại tiếng Nhật và phần nào tiếng Hoa là chính để “dịch” các từ mới. Như “siêu hình học”, ông lấy lại từ tiếng Nhật khi người Nhật dịch Métaphysique (Pháp) hay Metaphysics (Anh). Dù sau này có người đề nghị thay bằng “siêu thể học” chính xác hơn, nhưng mọi người đã quen rồi. Cứ thế mà dùng.
     Đây là thao tác cần thiết. Điều quan trọng là sau đó nhà văn, nhà khoa học Việt dùng nó (sử dụng có chọn lọc) làm nền tảng dịch hay viết các bài/tác phẩm khoa học.
Các từ vựng này, vì thế đã tham dự tích cực vào sinh hoạt trí thức Việt.
     Với Chăm, khối lượng từ vựng Ban biên soạn sáng tác trong thời gian qua không phải là ít, nhưng bởi nhiều nguyên nhân khác nhau, chúng đã không có được vinh dự ấy.
2.  Vốn từ vựng sinh ra từ cuộc sống hàng ngày, do chính nhân dân tạo tác trong lao động, giao tiếp,…
     Ví dụ, thời trước 1975, một số dụng cụ chiến tranh là các vật dụng trước đó Chăm chưa biết nên chưa có từ để gọi, là chuyện đương nhiên. Vậy là Chăm tìm cách đẻ. Họ đã đẻ ra thiệt, rất vui và không thể nói là không hay:
–    súng M72 (chống tăng) gọi là: phaw cuh klak/súng bắn (rồi) bỏ (nó chỉ bắn một lần duy nhất rồi bỏ: lấy công dụng đặt tên).
–    súng M79: phaw abauh ada/súng trứng vịt (vì đầu đạn giống tròng đỏ trứng vịt: nhìn hình dáng đặt tên)
–    máy bay trực thăng loại mỏng thì được gọi là ahauk talang/máy xương (vì nó “không có thịt da” như máy bay trực thăng thường). …
     Hiện tượng trên nói lên điều gì? Quần chúng Chăm cách nay 30-40 năm vẫn ý thức về sử dụng tiếng mẹ đẻ. Cũng có trường hợp các sự vật mới được thế hệ chú bác ta dùng thẳng tiếng Việt, nhưng có thể nói: sức sáng tạo ngôn từ vẫn còn. Còn hôm nay: hãy thử xem 4 vị Chăm chơi cờ “tiến lên” cũng đủ biết: toàn tiếng Việt! Tôi nghĩ, nếu trong cuộc này, ta thử “nói” tiếng mẹ (nếu chưa có thì cứ bày ra bừa đi ngay trong cuộc chơi đó) thì hay biết bao: kho từ vựng Chăm sẽ có vốn thuật ngữ “ăn chơi” mới!
3.  Vốn từ do nhà văn tạo ra trong quá trình sáng tác.
      Đây là vốn từ nằm giữa vùng danh từ khoa học và ngôn ngữ dân dã. Nó gần ngôn ngữ hàng ngày hơn, vì thế quần chúng cũng dễ tiếp nhận hơn. Với tiếng Việt, công lớn phải thuộc về các nhà tiểu thuyết tiền -Tự lực Văn đoàn, sau đó là Nhóm Tự lực Văn đoàn: từ các sáng tác phẩm của họ, các nhà soạn từ điển đã tập hợp cả một kho từ vô cùng phong phú. Riêng Xuân Diệu, tính về mặt từ vựng thôi, đã góp phần khá lớn.
     Tình hình Chăm khó khăn hơn nhiều. Vẫn có vài người chuyên làm thơ bằng tiếng mẹ, thậm chí Phutra Noroya còn viết cả cuốn tiểu thuyết nữa, nhưng nhìn chung: vẫn còn rất yếu! Mà lực lượng này cũng quá ngũ tuần rồi. Dù sao, Tagalau ra đời, đã phát hiện thêm 3 gương mặt trẻ măng có thơ bằng tiếng Chăm. Hy vọng vậy thôi.

III. Làm thế nào viết đúng tiếng Chăm?
     Người Chăm cư trú tại nhiều nước khác nhau. Ngay ở Việt Nam thôi, cộng đồng ta sinh sống không tập trung trên 10 tỉnh thành. Giọng nói các vùng miền khác nhau là chuyện bình thường. Và khi khoảng cách về thời gian khá xa, một lượng từ vựng/ngữ nghĩa biến đổi cũng là điều không thể tránh. Nói đâu xa, người Việt thôi: mỗi thứ cá dùng hàng ngày mà có đến 3 từ để gọi: cá tràu, cá quả, cá lóc!
     Thực tế, vốn từ của Chăm miền Tây hay Sài Gòn với Chăm miền Trung có khác biệt khá lớn. Phải chấp nhận vậy! Đó là nói về khác biệt về từ vựng.
     Riêng với lượng từ chung, ngữ nghĩa giống nhau, câu hỏi đặt ra: Làm sao viết đúng?
Không đề cập chữ Chăm truyền thống akhar thrah, chỉ bàn về chữ Chăm Latin thôi. Làm thế nào ta viết ra mà ai đọc cũng hiểu?
     Đây là đòi hỏi từ thực tiễn. Ở đây tôi xin đứng ở khía cạnh này để bàn. Vì nếu nói đến khoa học, thì mãi đến thế kỉ XXII vẫn chưa xong, có lẽ.
1.  Về âm chính:

     Ví dụ khi ta viết
A-  Păr, hay Pơr hoặc Par thì ai cũng hiểu nó nghĩa là bay, trong câu Ciim par nau dwah bbơng/Chim bay đi kiếm ăn..
B-  Jôi, Jwai, Chồi, Choài: đừng, cũng vậy.
C-  Viết: Kubaw hay Kabaw ai cũng hiểu là trâu.
D-  Gilai hay Galai: thuyền, cũng thế.
     Tạm kết luận: âm tiết chính a/ă/ơ hay a/u, i/a ít quan trọng trong việc xác định đúng/sai của từ. Nếu chấp nhận tính tương đối, ta có thể bỏ qua. Ví dụ B này đã xảy ra: Ban biên soạn sách chữ Chăm viết JÔI, bởi đại đa số làng Chăm phát âm như thế; trong khi vẫn còn vài làng phát âm: JWAI. Cái cần nhất: ai cũng hiểu.
     Do đó, mặc dù là người từ lò BBS nhưng trong các tác phẩm nghiên cứu của tôi, tôi không viết như BBS. Không viết như, nhưng tôi không chống đối cách viết đó. Không là thái độ ba phải mà tôi nghĩ: chúng rất tương đối.
2.  Phụ âm cuối:

     Khi ta viết: băR, băN, băL thì cả ba từ đó không cùng nghĩa nữa, mặc dù ta vẫn đọc là pằn. Ở đây phụ âm cuối R, N, L đóng vai trò khu biệt nghĩa.
Băr: màu sắc, Băl: thủ đô, [a]Băn: (tấm) chăn. Như vậy, muốn viết phụ âm cuối tiếng Chăm đúng, bắt buộc phải học thuộc. Nó cũng giống phụ âm cuối “T”, “C” trong tiếng Việt vậy: cái báT, cô báC.
3.  Lang likuk:

     Tiếng Chăm là ngôn ngữ đa âm tiết. Ví dụ ta viết: PAkak: chặn, CAkak: cắt, TAkak: nương (rẫy), HAkak: đong, Ikak: buộc, buôn, RAkak: ứ đầy.
Nên, dù âm tiết thứ hai nào trong 5 từ trên đều là: KAK cả, nhưng trước nó có lang likuk (tiền trọng âm) khác nhau (Pa, Ca, Ta, Ha, I, Ra), do đó chúng có nghĩa khác nhau. Vậy, nếu ta viết lang likuk này sai, thì nghĩa cũng sai theo. Muốn viết đúng chính tả, không cách nào khác là học thuộc lòng.
Kết luận: trong tiếng Chăm, phụ âm cuốilang likuk là quan trọng hơn cả trong việc xác định ngữ nghĩa của từ. Dĩ nhiên còn vài điểm phụ khác, nhưng tôi nhấn mạnh: quan trọng hơn cả. Còn làm thế nào để kiểm tra biết mình viết đúng/sai? Điểm này, tôi có phân tích kĩ lưỡng trong cuốn Tự học tiếng Chăm, Nxb. VHDT, 2003. Hay nhất, người học chỉ còn cách tra từ điển.

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Inra Sara

Thông tin tác giả Inra Sara

Nghiên cứu văn hóa Chăm; làm thơ, viết văn, dịch & viết tiểu luận - phê bình văn học. Hội viên – Hội Nhà văn Việt Nam – Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam – Hội Văn học - nghệ thuật các Dân tộc thiểu số Việt Nam.