* Jaya Bahasa phát biểu tại Giao lưu về Hàng mã kí ức, 5-2011 – Photo Inrajaya.

Tuyển tập Tagalau ra đời vào đầu thế kỉ XXI (năm 2000), trải qua hơn thập niên định hình và tiến triển đã mang đến một môi trường sinh hoạt văn hoá tinh thần cho người Chăm. Qua đó, giúp bảo tồn và phát huy giá trị bản sắc văn hoá Chăm, tô điểm cho văn hoá Việt Nam thêm đa dạng. Với khoảng thời gian qua, Tagalau đã có bước chuyển như thế nào và định hướng phát triển trong tương lai ra sao? Thì Tagalau 12, phần nào giải đáp cho thắc mắc trên. Trong bài điểm luận này, không nhằm đánh giá chất lượng của các bài viết mà chỉ nhận xét về định hướng phát triển của Tagalau thông qua nội dung bài viết. Bài điểm luận được chia thành 4 phần chính như sau:

1. Phần văn chương

Văn chương vốn là lĩnh vực thế mạnh của Tagalau, ngay từ số đầu tiên cho đến Tagalau 12. Trong số này, tuyển tập Tagalau giới thiệu được 19 tác giả với 42 bài viết gồm đủ thể loại thơ tiếng Việt, văn xuôi, truyện ngắn, tự truyện. Đặc biệt, thơ tiếng Chăm có 3 tác giả với 9 bài thơ.

Nếu như các bài thơ sáng tác bằng tiếng Chăm – Akhar Thrah – dễ dàng gây sự rung động cho người bao nhiêu bởi ngôn từ quen thuộc, sâu lắng, khơi gợi nhiều hình ảnh chân quê, hoài niệm xao xuyến cùng nỗi lòng trắc ẩn tâm tư với quê hương, đất nước, phơi bày những xúc cảm của tác giả trước đổi thay của dòng đời. Thì những bài thơ của tác giả Chăm vay mượn tiếng Việt để chuyển tải hồn thơ đã phá vỡ hết tính truyền thống của thi ca Chăm. Các tác giả chưa chú ý đến nhịp điệu, thể loại, thay vào đó, là những ngẫu hứng đơn tuyến, dị biệt đến khó hiểu, khó cảm nhận đối với độc giả phổ thông. Nhưng dù sao, các tác giả vẫn sử dụng chất liệu thơ từ những mảng chân quê của văn hoá Chăm pha trộn nét thị thành, phản ánh được đổi thay của xã hội trong thời đại kĩ thuật số. Nhìn chung, các tác giả chưa lĩnh hội được thể thơ Chăm cổ điển và tính tự sự theo tuyến lịch sử trong sáng tác văn chương.

Riêng văn xuôi, tác giả Shiyatna “Chuyện thầy ở quê tôi” đã đưa độc giả về với không gian tâm linh văn hoá Chăm bằng lối tự truyện tường thuật về những câu chuyện xem quẻ, xem bói ở nông thôn. Tác giả, nhận định khá chân xác, hiện tượng lên đồng, ngoại cảm không phải là hoạt động mê tín, dị đoan đáng lên án. Phải chăng đây cũng là nhu cầu sinh hoạt văn hoá tâm linh của người Chăm !

Sự quay trở về của Trà Vigia “Đêm Trung Đông” là yếu tố bất ngờ và tin mừng lớn cho độc giả Tagalau. Bởi rằng, văn sĩ Trà Vigia đã đôi lần muốn “xếp bút nghiêng” để dành khoảng đất văn nghệ cho thế hệ nối tiếp ngòi bút. “Đêm Trung Đông” không có ánh trăng mộng mị, không có chiến tranh và mùi thuốc súng. Nhưng là một đêm để ngẫm nghĩ tình người ở nơi đâu? Lòng người ở nơi đâu? “Đêm Trung Đông” thực sự là bóng tối thiên đường chốn trần gian.

2. Phần phê bình và phỏng vấn

Tagalau 12 công bố bài bình luận thi phẩm cổ điển trong kho tàng văn chương Chăm mang tên Ariya Patauw Adat Likei của tác giả Guga, và một bài tổng hợp trả lời ngắn của nhà văn Inrasara liên quan đến văn hoá Chăm và văn phẩm Hàng Mã Kí Ức.

Bài bình luận, nhận định về thi phẩm Ariya Patauw Adat Likei, là những định hướng gợi mở giúp hiểu và cảm nhận được giá trị mỹ học và giá trị tư tưởng giáo dục trong văn chương Chăm. Qua đó, thấy được sự phân chia, sắp xếp ngôi vị xã hội trong văn hoá Chăm khá đậm nét. Người đàn ông Chăm chỉ có một thứ tài sản duy nhất là kiến thức và trí tuệ để đi “chung sống với người xa lạ”. Và để có thể hài hoà với cuộc sống mới đòi hỏi ở người đàn ông phải rèn luyện phẩm chất và kĩ năng sống căn bản để dấn thân vào các hoạt động xã hội, cộng đồng. Ngược lại, vị thế của người phụ nữ là trông nôm và gìn giữ mái ấm hạnh phúc gia đình. Đó không chỉ là nghĩa vụ của giới mà còn là thiên chức. Phải chăng đó là sản phẩm của chế độ mẫu hệ đề cao giá trị nhân văn bảo vệ thiên chức người em gái, chị, cô, dì, bà theo quan niệm văn hoá Chăm truyền thống?! Những di sản văn hoá lịch sử này, nhiều khi bị quen lãng. May mắn thay, tác giả Guga nhắc nhở để nhắn nhủ đến các Nam nhi làm trai cho đáng nên trai.

Cũng nhận diện về văn hoá Chăm, nhưng Inrasara “Đối thoại hậu Hàng Mã Kí Ức” đã chọn một lối nhìn khác hẳn với cách thức truyền thống. Nhà văn Inrasara đã soi rọi văn hoá Chăm bằng những con người cụ thể. Ở đó, họ- chủ nhân của văn hoá Chăm được thể hiện mỗi người mỗi vẻ mỗi tính cách, nhưng tựu trung rất tinh thần Chăm. Hàng Mã Kí Ức gom góp và gói gọn sinh hoạt xã hội Chăm trong thế kỉ XX và những tiền đề bước vào kỉ nguyên mới. Đây là một tác phẩm văn chương khai thác đề tài tộc người thiểu số độc đáo ở Việt Nam. Những vốn từ vựng tiếng Chăm xuất hiện trực tiếp lên từng trang giấy qua từng mẩu chuyện, nếu được chắc lọc lại, có thể trở thành một cuốn từ điển lưu trữ văn hoá Chăm. Thao tác này, đã được nhà dân tộc học người Pháp là Georges Condominas đặt nền móng đầu tiên khi viết về tộc người Mnông Gar ở làng Sar Luk trên Cao nguyên Trung phần.

“Đối thoại hậu Hàng Mã Kí Ức”, không phải là lời độc thoại, đơn thanh của tác giả mà chính là quá trình tương tác của độc giả với nhà văn Inrasara giúp cảm thụ giá trị của tác phẩm và tích luỹ thêm vốn hiểu biết văn hoá Chăm cùng viễn cảnh của nó. Như vậy, với tác phẩm văn học Hàng Mã Kí Ức-Inrasara như thể là một Georges Condominas của Việt Nam.

 3. Phần nghiên cứu

Tagalau 12, hội tụ được nhiều tác giả và bài viết thuộc nhiều lãnh vực khác nhau (6 tác giả, 6 bài viết).

Tác giả Hồ Trung Tú, được độc giả cả nước biết đến qua công trình khảo cứu lịch sử “ Có 500 năm như thế…” và gây được dư luận trong độc giả người Chăm. Nay, Hồ Trung Tú khởi hành cùng Tagalau 12: “400 năm Phú Yên-nhìn lại trường hợp chủ sự Văn Phong”. Tác giả đã chứng minh rằng, Văn Phong là con trai Phan Công Hiến thuộc một tộc họ còn gìn giữ bản sắc văn hoá Champa. Nhân vật lịch sử Văn Phong đã giúp chúa Nguyễn Hoàng chinh phạt vùng đất Phú Yên. Nếu giả thuyết của tác giả đặt ra, đúng với sự thật lịch sử, thì Văn Phong đã “cõng rắn về cắn gà nhà” giống như văn bản Chăm Ariya Glơng Anak kể lại “cảnh nồi da xáo thịt”, những cảnh suy đồi trong quá vãng bi thảm. Lịch sử đã đi qua không ai có thể thay đổi được, nhưng có thể cải thiện trong tương lai về những mối quan hệ Chăm-Chăm, Chăm-Việt. Lần dở từng trang lịch sử, lắm lúc đau buồn, nhưng ngăn chặn sự tái lập lịch sử trong hiện tại là bài học quý giá cần ghi nhớ.

Tác giả Quang Cẩn “Vai trò của trí thức cao niên Chăm trong việc bảo tồn tiếng Chăm” đã đưa ra những con số dự báo về sự mất đi vĩnh viễn của các ngôn ngữ tộc người thiểu số trên thế giới, trong đó, có tiếng Chăm. Trên cơ sở nhận định về hiện trạng của ngôn ngữ Chăm, tác giả đề ra một số giải pháp khuyến nghị để bảo tồn tiếng Chăm. Và giải pháp mà tác giả đề xuất là niềm tin vào những người cao tuổi giúp con cháu nói tiếng Chăm cho chuẩn, chính xác và thành thạo. Giải pháp này là một ý kiến. Tuy nhiên, ngôn ngữ Chăm có phát triển được hay không, trước hết, nằm ở chính nội tại của cộng đồng Chăm. Trong gia đình các thành viên có tập nói tiếng Chăm? Tiếng Chăm có được đưa vào giáo dục song ngữ ở bậc trung học phổ thông? Ngoài ra, việc đẩy mạnh sử dụng tiếng Chăm trong đời thường như viết thư, xuất bản các ấn phẩm phim,  truyền thanh, truyền hình, truyện tranh, sách, báo, tạp chí bằng chữ Chăm –Akhar Thrah– mới là phương thức hiệu quả để bảo tồn ngôn ngữ tộc người thiểu số ở Việt Nam.

Tác giả Bá Văn Quyến “Bí ẩn của tháp Po Romé”, đã giúp độc giả hiểu biết về nhân vật lịch sử Ppo Rome trong vương triều Panduranga trị vì ở thế kỉ XVII. Và quá trình khai quật, nghiên cứu di tích đền tháp Ppo Rome ở thôn Hậu Sanh, tỉnh Ninh Thuận từ thời Pháp thuộc đến ngày nay. Qua những đợt khám phá khảo cổ học, đã khai mở được nhiều vấn đề về văn hoá, lịch sử liên quan đến triều đại Ppo Rome. Đặc biệt, các nhà khoa học đã phát hiện được Ghur Bini cùng hài cốt người là một bằng chứng thuyết phục về sự tồn tại của vương triều Ppo Rome là có thật chứ không phải là huyền sử cổ tích.

Tác giả Quảng Đại Sơn “Về những hiện vật điêu khắc đá Champa trong bảo tàng lịch sử Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh”. Đối tượng nghiên cứu chính của tác giả là các hiện vật điêu khắc đá thuộc nền văn minh Champa đang trưng bày trong bảo tàng. Trên cơ sở những hiện vật như thần Shiva, nữ thần Devi, tượng Phật, Apsara, sư tử, bò Nandin, voi và chim thần Garuda.v.v. Tác giả giải mã về ý nghĩa của hiện vật theo quan điểm thần thoại Ấn Độ thể hiện sâu sắc ảnh hưởng của Hindu giáo trong nền văn minh Champa. Tiếc rằng, tác giả chưa làm sáng tỏ nguồn gốc, lí lịch của cổ vật điêu khắc đá Champa đang trưng bày trong bảo tàng, cũng như chưa xác định số lượng của hiện vật. Mặt khác, tác giả kết luận điêu khắc Champa có sự giao lưu với nhiều nền văn hoá khác và có nét phong cách riêng. Tuy nhiên, nét khác biệt của điêu khắc Champa tác giả chưa trình bày được rõ ràng.

Tác giả Quảng Đại Tuyên “Bước đầu tìm hiểu về triết lý âm dương thông qua hình ảnh cánh diều Chăm”. Hoạt động vui chơi thả diều cũng là một nét văn hoá, diều thường được trẻ em nông thôn chơi vào dịp nghỉ hè hay sau vụ mùa thu hoạch lúa .v.v.  Từ việc phân loại các loại diều truyền thống. Tác giả nhận định, mỗi con diều đều tưởng trưng cho nhân sinh quan và vũ trụ quan của người Chăm. Thông qua đó, tác giả đi đến nhận thức có một triết lý âm dương. Để đưa ra luận cứ chứng minh, tác giả dựa vào tư liệu Chăm về quan niệm vũ trụ. Tiếc rằng, triết lý âm dương là một học thuyết của người Trung Quốc tổng kết thành. Tác giả đã sử dụng từ vựng tiếng Trung Quốc Yin-Yang  (Âm-Dương) mà tưởng rằng từ tiếng Chăm. Vì thế, nội dung bài viết chưa nêu lên được điểm nổi bật của triết lý âm dương qua hình ảnh con diều mà chỉ là những mặt đối ngẫu, đối lập nhau, theo quan niệm, ý nghĩa về phồn thực, nếu kết hợp lại sẽ sản sinh ra giá trị mới. Tuy vậy, tác giả đã phiêu lưu đi đến kết luận “Diều Chăm chính là sự nhận thức về vũ trụ quan, nhân sinh quan dựa vào sự tiếp thu có sáng tạo trên cơ sở của nền văn hoá truyền thống Đông Nam Á”. Như vậy, tác giả đã nhân hoá hình tượng cánh diều thành một triết lý âm dương, mà quên rằng, hoạt động thả diều là sinh hoạt giải trí lúc nông nhàn.

Tác giả Bá Minh Truyền “Tổng luận về nghiên cứu lịch sử, văn hoá, xã hội và giáo dục người Chăm ở Việt Nam”. Giới thiệu một số công trình nghiên cứu về người Chăm ở Việt Nam. Đặc biệt, đã nhấn mạnh vào lãnh vực giáo dục. Sự ra đời và hoạt động của trường trung học Pô Klong vào thập niên 60, 70 của thế kỉ XX, đã cung ứng cho xã hội ngày nay một đội ngũ công chức, cán bộ đông đảo đang hoạt động ở nhiều cơ quan và ngành nghề. Như vậy, có tư duy giáo dục Pô Klong không? Đây là câu hỏi chưa nhận được lời giải đáp thoả đáng. Từ đó, cho thấy tình trạng giáo dục của tộc người thiểu số nói chung và người Chăm nói riêng chưa có sự quan tâm nhiều. Triết lý giáo dục Pô Klong có tiếp tục được phát triển trong tương lai hay không? Đây vẫn còn là điều suy tư của trí thức Chăm đương thời.

 4. Phần văn hoá-xã hội

Tagalau 12, hội ngộ 6 bài viết của 4 tác giả. Nội dung của các bài viết đề cập đến các vấn đề có tính thời sự. Từ lịch sử hoạt động báo chí người Chăm đến những thực trạng hoạt động của các Nhà Văn hoá ở các làng Chăm. Việc sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ như thế nào đến vấn đề hôn nhân đồng văn đồng chủng, đều đã được các tác giả trình bày cùng những ý kiến  khuyến nghị giúp cải thiện, phát huy các giá trị bản sắc văn hoá Chăm trong cộng đồng đa tộc người Việt Nam.

Ngoài ra, Tagalau 12, còn lời dẫn nhập của Inrasara như thay lời nói đầu, các tin tức liên quan đến sinh hoạt văn hoá, văn nghệ của người Chăm, bảng chuyển tự latinh chữ Chăm-Akhar Thrah. Đặc biệt, có 2 tấm hình minh hoạt gương mặt Chăm ở trang ngoài cùng.

Kết luận

Tagalau vẫn nở hoa đều đặn hơn thập niên qua cùng lễ hội Katê, Ramưwan, Rija Nagar. Tagalau 12 là bước tiến triển mới về cả hình thức trình bày lẫn nội dung bài viết, mang đến một môi trường sinh hoạt văn nghệ và không ngừng phát hiện những tài năng mới. Chính những mầm non văn nghệ này, sẽ trở thành hạt giống kế cận hoạt động sáng tác, nghiên cứu văn hoá Chăm trong tương lai.

Những giọng thơ của tác giả Chăm qua lăng kính ngôn ngữ tiếng Việt không những phá cách những thi pháp cổ điển mà còn truyền cảm những mảng hồn Chăm đến với bạn đọc cả nước. Những tác giả trung thành với thơ tiếng Chăm-Akhar Thrah– đã luống tuổi hoàng hôn nhưng vẫn chưa xuất hiện thế hệ nối tiếp. Những cây viết thành danh mà tên tuổi của họ đã có mặt từ số đầu tiên của Tagalau đã ngả bóng về chiều vẫn còn tiếp tục ngoảnh nhìn lại. Thật trân quý biết bao !

Các hoạt động văn hoá-xã hội Chăm nổi bật được Tagalau 12 tổng kết kịp thời. Hơn thế nữa, các vấn đề có tính thời sự  được trình bày một cách cô đọng giúp độc giả có được thông tin quan trọng. Đề tài nghiên cứu văn hoá Chăm chưa bao giờ đứt đoạn, Tagalau 12 công bố nhiều bài viết khảo cứu khoa học nghiêm túc về văn hoá, lịch sử Champa đồng thời, giải mã nhiều ý nghĩa các giá trị trong văn hoá Chăm.

Quá trình  hoạt động của Tagalau đã nhận được nhiều ý kiến khác nhau từ giới trí thức Chăm và bạn đọc gần xa. Tuy nhiên, Tagalau tồn tại và phát triển đến ngày nay là nỗ lực rất lớn của các sáng lập viên, sự ủng hộ của mạnh thường quân và độc giả. Có thể các trí thức Chăm có những nhận định đa tuyến về Tagalau, nhưng, việc ủng hộ Tagalau là một nghĩa cử đẹp thể hiện lòng yêu quý văn hoá Chăm. Tagalau 12 đã tạo được bước chuyển biến tích cực, khuyến khích các cây viết mới hội tụ về sinh hoạt cùng sân chơi Tagalau./.

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)

Thông tin tác giả