Tagalau 3 xin giới thiệu bài nghiên cứu của tác giả Trương Thông Tuần về một vấn đề trong luật tục (klei duc klei bhiăn kdi) Êê. Êê còn có vài tên gọi khác như Rađê, Anăk Êdê, Êđê Egar v.v… là một tộc người khá thống nhất, sống tương đối tập trung ở tỉnh Đắc Lắc và các vùng lân cận thuộc các tỉnh Gia Lai, Phú Yên, Khánh Hòa v.v.. Êđê cùng với Giarai, Churu, Raglai, Chăm là những tộc người thân thuộc làm thành nhóm Nam Đảo lục địa của Đông Nam Á.

      Cũng như nhiều dân tộc thiểu số khác ở Việt Nam, người Eđê có vốn văn hóa dân gian phong phú, trong đó luật tục đóng vai trò quan trọng trong đời sống cộng đồng. Luật tục còn được gọi là tập quán là những quy tắc ứng xử có tính truyền thống được truyền miệng từ đời này qua đời khác mà mọi người trong cộng đồng phải tuân theo để giữ gìn, điều chỉnh các quan hệ ứng xử xã hội trong cộng đồng. Để chỉ những quy tắc ứng xử này người Chăm chúng ta gọi là Luật tục (Tana rakun, Adat cabbat).

      Luật tục có giá trị về nhiều mặt như văn hóa, ngôn ngữ, đạo đức, tri thức về tự nhiên và xã hội. Bài nghiên cứu này của Trương Thông Tuần sẽ cho chúng ta thấy một nét độc đáo trong nghệ thuật dùng ngôn từ của người Êđê, qua đó chúng ta có thể phát hiện nhiều nét gần gũi giữa tiếng Êđê và tiếng Chăm.

      Luật tục Êđê là một sản phẩm ngôn ngữ độc đáo có giá trị và đồng thời cũng là một trong những thành tựu đáng chú ý nhất trong nền văn hóa Êđê. Từ lâu, hệ thống ngôn từ của nó không chỉ làm nền tảng cho các thể loại văn học dân gian mà còn được vận dụng một cách rộng rãi trong giao tiếp hằng ngày của người Êđê. Mặt khác có thể nói ngôn từ Luật tục là một trong những nơi phản ánh và hội tụ đầy đủ nhất các đặc trưng ngôn ngữ – văn hóa dân gian Êđê. Trong bài này, người viết giới hạn trình bày một đặc điểm phổ biến trong cách thức diễn đạt của người Êđê qua ngôn ngữ luật tục là việc sử dụng hình ảnh so sánh.

      1. Đặc tính ngôn ngữ nghệ thuật trong Luật tục Êđê

      Người Êđê gọi luật tục của mình là Klei bhiăn. Không chỉ riêng luật tục Êđê mà luật tục của tất cả các dân tộc thiểu số ở Việt Nam đều được ra đời và dần dần xây dựng thành hệ thống là nhằm hướng dẫn hành động con người không làm điều tội lỗi và có lối sống ngày tốt đẹp hơn. Vì thế, xét cho cùng luật tục cũng như hương ước, lệ làng, luật pháp, đều có tác dụng làm cho nhận thức con người thay đổi theo chiều hướng phát triển tích cực, thúc đẩy xã hội phát triển. Tuy nhiên, để thực hiện được chức năng nhận thức và mục đích ý nghĩa đó, ngôn ngữ Luật tục Êđê lại xây dựng trên cơ sở của tư duy hình tượng và bằng ngôn ngữ của cảm xúc và của trí tưởng tượng. Do đó, xét về mặt phong cách ngôn ngữ thì ngôn ngữ Luật tục tiến gần tới phong cách ngôn ngữ nghệ thuật văn chương và nhìn chung khác với phong cách ngôn ngữ hành chính của các văn bản hương ước, lệ làng, luật pháp. Nhưng trong ngôn ngữ Luật tục Êđê ta cũng có thể gặp các trường hợp sử dụng hình thức ngôn ngữ thể hiện sự kết hợp hài hòa của hai phong cách ngôn ngữ trên và tác động cùng lúc vào nhận thức và tình cảm con người.

      2. Các hình ảnh dùng để so sánh trong luật tục Êđê

      Vì ngôn ngữ của Luật tục có tính nghệ thuật văn chương nên bản thân nó hàm chứa nhiều hình ảnh về sự vật, hiện tượng mà người Êđê thường xuyên tiếp xúc qua lao động sản xuất và sinh hoạt trong đời sống hằng ngày của mình. Các hình ảnh trong luật tục thường được trình bày theo trật tự và quan hệ lôgic với nhau nhằm làm sáng tỏ nội dung ý nghĩa của luật tục. Đó là những hình ảnh rất cụ thể, chân thực, quen thuộc thường hiện diện trong đời sống vật chất và tâm linh của người Êđê.

      Thống kê trên 1706 câu vân vần (klei duê) của 236 điền khoản của “Luật tục Êđê” (1996, NXB Chính trị Quốc gia) ta có được 306 hình ảnh dùng để so sánh, bao gồm hình ảnh đồ vật: 93; động vật: 67; các loại cây cối và hoa quả: 56; cơ thể con người: 28; thiên nhiên: 23; thần linh:8 … Như vậy hình ảnh đồ vật chiếm tỉ lệ lớn nhất, tiếp đến là động vật và các loại cây cối và hoa quả.

      Hình ảnh đồ vật bao gồm: cái cồng, cái chiêng, cái la, cái trống, cái cán niết, cái cán chà gạc, cái rựa, cái cuốc, cái rìu, cái đao, cái kiếm, cái gùi, cái sọt, cái gậy, cái dùi sắt, cái cối, cái chày, các loại ché (tuk, êbah, yăng, băng gri), cái nồi đồng, cái trã, cái ná, cái nhưng, cái dao ngâu, cái vòng đồng, cái lẫm, cái bẫy, cây chông, cái phản chân gùi, cái rổ, cái rá, cái thúng, cái mủng, cái bù dài, cái ống thuốc, cái ống điếu, rượu, cái nhọt, cơm, cái chăn, chiếc chiếu, cái áo quan, chiếc thuyền, hạt gạo, cây quá giang, cái giường, cái ghế, hòn núc, cái khăn, cái dải khâu, củi, bát canh, hạt muối, cái tăm, ngôi nhà, cái nơm, cần câu, cây đèn, cây đuốc, cái nong, cái nia, cái nhạc, cái váy, cái bát, cây kim, dây rừng, dây thừng, cái sa, cái guồng, cái vại, cây sào, rầm nhà, giát sàn, nóc nhà, cái bếp, cái hàng rào, nấm mồ, cần rượu, bó củi, cái điều, cuộn chỉ, hạt lúa, cái nơm, cái chòi, cái que, đôi đũa, sợi guộc, cọng rơm, cái áo, cái khăn.

      Hình ảnh các loài động vật có lợn, gà, trâu, bò, voi, tê giác, chó, mèo, ngựa, chồn, cáo, vượn, khỉ, cà tong, hươu, nai, hoẵng, mang, hổ, gấu, thỏ, trăn, rắn, nhím, rùa, kỳ nhông, mèo, các loại chim (phượng hoàng, trĩ, đại bàng, phí, két, vẹt, quạ, cú, diều hâu, chèo bẻo, nhện, mling, mlang, ngói, bói cá, cú vọ), chuột, các loại ve (tê, tiết) muỗi, ruồi, cua, các loại cá (rô, trê, kpung, kruah, lóc, sấu, cá chép, cá quả), ếch, ong, dế, giun, châu chấu, cóc, nhồng, vắt, đĩa.

      Hình ảnh cây cối và hoa quả: cây đa, cây sung, cây le, cây lau, cây lách, cây sậy, cây lồ ô, cây tre, cây nứa, cây gạo, cỏ tranh, cây xoài, cây muỗm, cây lúa, cây khoai môn, cây bông, cây klông, cây kpang, cây tung, cây blang, cây êjung, cây knôk, cây êya, cây êpang, cây cà chích, cây êrăng, cây juê, cây êngai, cây ktu, cây ênăm, cây kcik, cây mnung, cây mniêng, cây cây kut, cây êbla, cây tông mông, cây hrac, cây êghuih, cây êsa, cây aroh, cây săm niêng, cây kthih (cây củ ấu)… quả cà, quả ớt, quả bầu, quả dưa, quả bắp, quả cau; hoa tông mông, hoa gạo, hoa êpang: rau, nấm, măng trúc, củ mài, rễ cây…

      Hình ảnh cơ thể con người: chân, mông, miệng, đầu, môi, lưỡi, bụng, vai, mắt, cùi tay, ngón tay, gan, tim, tóc, đít, mặt, tai, lưng, tay, lông đùi, lông chân, máu, thịt, xương, răng, mật, lưỡi, hàm…

      Hình ảnh thiên nhiên: lửa, sấm, rẫy, rừng, mặt trời, nước, sao, đá tảng, đá hộc, núi, sông, suối, ao, hồ, đầm, dốc, chiều, đêm, sáng, ban ngày, ban trưa, chạng vạng, vũng nước, cái lưng của tổ tiên ông bà (mặt đất Tây Nguyên không có sườn dốc mà lượn sóng giống như cái lưng con người, người Êđê gọi mặt đất là cái lưng của tổ tiên ông bà) …

      Hình ảnh về các vị thần: trong Luật tục có 58 lần xuất hiện từ Yang (thần) để chỉ thần linh một cách chung chung, ngoài ra còn hiện diện tên tuổi các vị thần và siêu nhiên khác, cụ thể là: mjao (phù thủy), giê (thầy bói, sải cây), mngun, mngắt (hồn vía), aê duôm (ông bà), aê duôm đian (tổ tiên), yang adiê (trời đất thần linh).

      Khảo sát đặc tính hình ảnh so sánh trong Luật tục của Êđê, chúng tôi thấy có hai loại hình ảnh chủ yếu, đó là những hình ảnh không khác biệt, đối lập và những hình ảnh có sự khác biệt, đối lập với quy luật tự nhiên và cuộc sống.

      2. 1. Dùng hình ảnh không có sự khác biệt, đối lập để so sánh

      Khi sử dụng những hình ảnh so sánh, luật tục thường chú ý đến hình ảnh có đặc điểm, tính chất, hành động không khác biệt, đối lập với quy luật của tự nhiên và cuộc sống để so sánh tương đồng với hành vi cá nhân con người. Chẳng hạn, khi nói về kẻ đã có vợ, còn làm cho người con gái khác có thai, luật tục nêu ra nhiều hình ảnh so sánh kẻ đó với hình ảnh sự vật, sự việc như sau:

      “Hắn là kẻ đã có vợ có chồng, như cánh nỏ đã tra vào bán nỏ.
      Còn người ta là một gái tơ chưa chồng như con chà gạc chưa tra cán, như nỏ chưa có dây.
      Hắn thèm người ta như thèm quả chua, rau ngọt. Hắn vốn đã thèm người ta từ hôm qua, hôm kia rồi.
      Nếu hắn thèm mà đi lại vụng trộm với người ta thì hắn phải xem chừng, sao cho vừa phải. Đến kỳ trăng lên, hắn phải tháo cái vòng đồng đúc ra, phải cởi cái vòng đồng dây ra, ngựa và voi phải mỗi con đi ăn một ngả.
      Đằng này, hắn đi lại vụng trộm với người ta cho đến khi củ đã sinh chồi, khoai đã lú lên khỏi mặt đất, cho đến khi đầu vú người ta đã thâm đen, lưng người ta đã lõm vào, bụng người ta đã nhô lên”           (đk 131, tr.146,147)

      Quả thật, người ta đã luận tội của hắn một cách rõ ràng là nhờ vào cách liên tưởng tương đồng giữa tính chất hành động thông dâm, ngoại tình của hắn với các tính chất, hoạt động của sự vật, sự việc:

      Cánh nỏ đã tra vào bán nỏ giống như việc hắn đã có vợ ở nhà rồi.
      Con chà gạc chưa tra cán, nỏ chưa có dây giống như người con gái kia chưa có chồng.
      Thèm quả chua, rau ngọt khác nào cái ý khát khao chiếm đoạt của người đàn ông phạm tội.
      Ngựa và voi phải mỗi con đi ăn một ngả được sánh như việc người đàn ông nọ và cô con gái kia không được quan hệ thông dâm, ngoại tình với nhau.
      Củ đã sinh chồi, khoai đã lú lên khỏi mặt đất khác nào hình ảnh người con gái đã có thai.

      Về hành động vi phạm lời cam kết, luật tục dùng những hình ảnh quen thuộc với những tính chất của nó để so sánh với hành vi kẻ phạm tội như sau:

      “Hắn ồn ào như cái cồng klông, luôn luôn ngọ nguậy như con cà tong cụt đuôi. Hắn là một con người lắm chuyện.
      Hắn như quả cà luôn luôn biến dạng(khi người ta giã) như cây le (từ xa người ta tưởng còn thẳng nhưng thật ra đã dập nát).
      Sáng sớm hắn như con chim bhí trống, giữa trưa hắn biến thành con chim bhí mái. Đến khi vào thung, vào rừng hắn lại biến thành một cái gì khác nữa.
      Miệng hắn cứ đồm độp như cây nứa nổ, quang quác như con chim phượng hoàng đất kêu. Hắn là một con người hay hứa quàng, hứa hão.
      Hắn như ngọn cỏ mà muốn vươn cao hơn cây lau. Như cọng tranh mà muốn vươn cao hơn cây sậy, như con thú rừng muốn vượt qua cả lùm dây êjung.
      Hắn là một con ngựa khỏe nhưng không nhanh, là một con người mà không am hiểu gì nhiều”.          (đk 6, tr.46,47)

      Một loạt các hình ảnh có tính chất và hoạt động gần giống nhau nối tiếp theo trật tự lôgic chặt chẽ đã có tác dụng bổ sung và soi tỏ ý nghĩa lẫn nhau, từ đó toát lên bản chất nhiều mặt của kẻ phạm tội. Hắn là con người lắm chuyện, chuyên sống giả dối, liên tục thay đổi ý kiến, hay hứa quàng, hứa hão với mọi người, ngoài ra hắn còn là kẻ không am hiểu gì nhiều mà làm như người lắm tài. Sự biểu đạt có hiệu quả nghệ thuật như thế là nhờ vào việc dùng các hình ảnh so sánh. Người ta đã so sánh cái con người xấu xa đáng bị coi thường ấy tương đồng với đặc tính của các hình ảnh: tiếng ồn của cái cồng klông; hành động ngọ nguậy của con cà tong cụt đuôi; lật sấp, lật ngửa như quả cà khi bỏ vào cối để giã; cây le bị dập nát; cấy nứa nổ lúc cháy; con chim bhí thay đổi màu lông theo sáng, chiều; con chim phượng hoàng kêu đất; con ngựa khỏe mà không nhanh. Rõ ràng các hình ảnh trên thường diễn ra trong đời sống thường ngày của con người không có gì khác biệt, đối lập với quy luật của tự nhiên và cuộc sống.

  2. 2. Dùng hình ảnh có sự khác biệt, đối lập để so sánh

      Ngoài ra, trong Luật tục, người Êđê còn sử dụng nhiều hình ảnh khác mà bản thân nó tồn tại những đặc điểm tính chất khác biệt, đối lập với tự nhiện, cuộc sống để so sánh tương đồng với hành vi của cá nhân phạm tội. Đây là một kiểu so sánh phản ánh cách tư duy đặc trưng của người Êđê. Chẳng hạn:

      “Hắn như ngọn cỏ mà muốn vươn cao hơn cây lau. Như cọng tranh mà muốn vươn cao hơn cây sậy, như con thú rừng muốn vượt qua cả lùm dây êjung” (đk 6, tr.47)
      “Cái nhọt đã xệp xuống hắn làm cho mưng mủ lên, cơm đã nguôi hắn hâm nóng lại”.             (đk 10, tr.49)
      “Hắn là kẻ chân đứng ở trong làng nhưng mông để ngoài làng”. (đk 11, tr.50)
      “Kẻ như lưỡi dao lại muốn dày hơn sống dao”. (đk 27, tr.61)
      “Cây le đang xanh hắn làm cho khô héo đi, cây lồ ô đang nguyên vẹn hắn làm cho gãy nát. Hắn vô cớ buộc tội người tù trưởng giàu”.          (đk 32, tr.64)
      “Hắn là kẻ muốn lấy lưỡi cán cuốc ra khỏi cán cuốc, muốn tháo lưỡi chà gạc ra khỏi cây chà gạc, là kẻ xuyên tạc người tù trưởng nhà giàu.   (đk 39, tr.68)
      “Môi ở đây mà lưỡi ở đằng kia” (đk 47, tr.76)
      “Hắn nhìn gốc hóa ra ngọn, nhìn ngọn hóa ra gốc”.      (đk 56, tr.84)
      “Hắn ngồi trong nhà, đít đặt trên ghế, nhưng mặt quay ra cửa, đầu nghĩ đến núi rừng”.                      (đk 70, tr.96)
      “Hắn không nghe cùng một tai, không nói cùng một miệng”. (đk 86, tr.107)
      “Hắn bỏ ra đi, chân thì đi về hướng đông, nhưng đầu thì quay về hướng tây, chân thì đi về hướng đông, nhưng đầu thì quay lại nhìn ngang”.  (đk 130, tr.145)
      “Hắn ăn cau mà không bổ, không dóc vỏ đi. Hắn đi ở một làng khác mà không báo cho trưởng buôn biết”.   (đk 130, tr.146)
      “Hắn là một con người chân có xương mà không có thịt”.         (đk 193, tr.197)
      “Hắn ăn thịt sống, cá tươi; cá chép, cá quả đều nuốt chửng bất cứ thứ gì, hắn không biết cái gì là đúng, cái gì là sai”.   (đk 196, tr.199)

      Qua các câu văn nêu trên, rõ ràng các hình ảnh được đem ra so sánh có những hoạt động, tính chất khác biệt, đối lập với quy luật của tự nhiên và cuộc sống: ngọn cỏ mà muốn cao hơn cây lau; lưỡi dao lại muốn dày hơn sống dao; kẻ muốn lấy lưỡi cán cuốc ra khỏi cán cuốc, muốn tháo lưỡi chà gạc ra khỏi cây chà gạc v.v…

      Sở dĩ trong cách diễn đạt một mình, người Êđê thích dùng nối tiếp nhau những hình ảnh có hoặc không có sự khác biệt, đối lập với quy luật của tự nhiên và cuộc sống để so sánh với các hành vi phạm tội của con người vì rằng, một mặt diễn đạt như thế, nó giúp cho người nghe nhận thức và khẳng định một cách vững chắc và đầy đủ về tội trạng của kẻ phạm tội, mặt khác còn tạo ra cho mọi người có thái độ căm ghét đối với tội phạm. Đây cũng là đặc điểm của ngôn ngữ Luật tục để giáo dục nhận thức và tình cảm cho con người.

      3. Đặc điểm thủ pháp so sánh trong Luật tục Êđê

      So sánh là một trong những thủ pháp mà con người thường dùng nhất trong quá trình giao tiếp bằng ngôn ngữ, đặc biệt trong tác phẩm văn chương thủ pháp này thường sử dụng phổ biến nhiều hơn cả và mang lại những giá trị ý nghĩa khác nhau. Mặc dù nội dung ý nghĩa của Luật tục gần như hương ước, lệ làng, pháp luật, nhưng ngôn ngữ của nó lại sử dụng nhiều biện pháp tu từ đem lại những giá trị hiệu quả nghệ thuật cao, trong đó thủ pháp so sánh được người Êđê dùng như là một thủ pháp nghệ thuật chính để diễn đạt rõ hơn điều mà mình muốn thông báo. Nhờ thế thủ pháp này không những giúp cho mọi người nhận thức bằng lý trí nội dung ý nghĩa của luật tục mà làm tăng thêm tính gợi hình, gợi cảm tạo nên vẻ đẹp chung cho ngôn ngữ Luật tục. Theo chúng tôi thống kê thì hiện nay Luật tục Êđê đã có 1707 câu, trong đó có 213 câu sử dụng thủ pháp so sánh.

      Trong ngôn ngữ Luật tục, người Êđê thường sử dụng thủ pháp so sánh gồm có 2 vế: vế A và vế B, trong đó A thường là kẻ phạm tội, B gồm có nhiều đối tượng so sánh khác nhau. Đó là những hình ảnh sự vật sự việc diễn ra trong đời sống hằng ngày thân quen gần gũi với con người. Điều đặc biệt ở thủ pháp so sánh này là chỗ vế B thường có đến nhiều đối tượng khác nhau, tức là người Êđê không chỉ so sánh một hoặc hai lần mà có sở thích so sánh từ 3 đến 4 lần, với họ có so sánh trùng điệp như vậy thì mới hay, hấp dẫn và mới gây ấn tượng sâu sắc đến người nghe. Cho đến bây giờ với thủ pháp so sánh của người xưa mang đậm dấu ấn tư duy và bản sắc văn hóa Êđê của người Êđê vẫn làm hấp dẫn bao thế hệ con người. Sau đây là một dẫn chứng tiêu biểu:

      “Hắn như ngọn cỏ mà muốn cao hơn cây lau, như cọng tranh mà muốn cao hơn cây sậy, như con thú rừng mà muốn vượt qua cả lùm êjung”. (đk 6, tr.47)
      “Người ta là những chàng trai cô gái trong trắng, trong trắng như hạt gạo mới giã, sáng như đóa hoa êpang, như ánh sáng mặt trời”. (đk 17, tr.54)
      “Hắn như con cọp vồ trượt mồi, như con hoẵng hất mỏm vào chỗ trống, như nhà giàu bị thua kiện”. (đk 17, tr.54)
      “Là kẻ được thủ lĩnh đầu làng săn sóc như săn sóc cái giường nằm, giữ gìn như giữ gìn cái ghế dài ngồi đánh cồng chiêng, giữ gìn cái ghế đẩu ngồi chơi, cưu mang lo lắng như chính đối với vợ con mình”. (đk 32, tr.62)
      “Hắn là kẻ không có hơi thì hắn thụt, chuột không chui ra thì hắn thọc, hươu nai, heo rừng (đang sống yên ổn) thì hắn làm cho bỏ chạy tứ tung. Hắn là con người đảo điên, xiên vẹo”. (đk 34, tr.65)
      “Hắn như cây juê không ai thèm chặt, như cây êngai không ai thèm lấy, như con dao đã vót lụt không ai thèm tra cán lại”.    (đk 37, tr.67)
      “Họ đi cùng đi, dậy cùng dậy, giương nỏ cùng giương, bật nỏ cùng bật, trăm tiếng nghe như một”. (đk 43, tr.72)
      “Hắn như vũng nước mà người ta có thể tát cạn, như một con suối mà người ta có thể nắn dòng, như một con chó không muốn vào bẫy thì người ta có thể ẩy vào, như một con quạ, con diều hâu không ăn thịt (thịt mà người ta cúng cho) thì người phóng cho những lưỡi dao, nhát gươm”. (đk 165, tr.175)
      “Thế mà bây giờ hắn như con vắt hút cả hai miệng, con đĩa cắn cả hai đầu, đường mòn trong rừng hắn đi, đường thênh thang ngoài bãi tranh hắn cũng đi”(đk 192, tr.196)
      “Hắn hành động như thần, như trời đang nổi giận, cây gỗ đã thẳng chúng mưu toan chắp lại, cây le đã gãy chúng mưu toan đạp cho dập thêm”. (đk 204, tr.204)

      Ngoài ra, qua thủ pháp so sánh trong ngôn ngữ Luật tục, một số hình ảnh được người Êđê sử dụng có giá trị biểu đạt như một hình tượng nghệ thuật. Cây đa, cây sung ở bến nước đầu làng là những hình ảnh tượng trưng cho những người cha người mẹ biết chăm lo con cái trong gia đình và là những Già làng. Chủ bến nước biết quan tâm đến mọi thành viên trong cộng đồng; con cọp, con cáo, con chồn, con cà tong, con chim bhí, … là những hình ảnh tượng trưng cho bản chất xấu xa của kẻ phạm tội; hình ảnh con voi đã xiềng, cái chiêng đã treo chỉ một cái gì rất bền vững khó có thể phá vỡ được; hình ảnh giường cứt, chiếu đái là chỉ công lao khó nhọc của mẹ cha trong việc sinh thành nuôi dưỡng con cái.v.v…

            Việc sử dụng nhiều các hình ảnh quen thuộc trong đời sống hằng ngày cùng với lối so sánh trùng điệp đơn giản, dễ hiểu thể hiện đặc trưng tư duy của người Êđê đã làm “mềm hóa” nội dung ý nghĩa của Luật tục. Vì thế, người dân bình thường có thể tiếp thu Luật tục một cách không cứng nhắc, khô khan theo kiểu lý thuyết mà ngược lại tiếp thu nó như tiếp nhận một tác phẩm văn học dân gian. Vì thế, từ bao đời nay ngôn ngữ những Luật tục đã đi vào đời sống của người dân một cách sâu rộng và có tác dụng mạnh mẽ đối với ý thức luật tục của từng cá nhân, góp phần rất lớn vào việc củng cố, ổn định, phát triển cộng đồng xã hội. Đó cũng là một trong những nét đặc trưng của ngôn ngữ Luật tục Êđê.                                                                                                                

                                                                               Tháng 8 năm 2001

Tài Liệu Tham Khảo

  1. Viện Ngôn ngữ học VN, 1993, Từ điển Việt – Êđê, NXB Giáo dục
  2. 1996, Luật tục Êđê (tập quán pháp), NXB Chính trị Quốc gia
  3. Viện Văn hóa Dân gian, 1995, Văn hóa dân gian Êđê, NXB Văn hóa – Thông tin Đắc Lắc.
  4. Thông tin khoa học pháp lý, 1997. Chuyên đề về luật tục. Viện Nghiên cứu khoa học pháp lý.
  5. Trần Ngọc Thêm, 1997, Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, NXB Tp. Hồ Chí Minh
  6. 1999 Giảng văn Văn học Việt Nam, NXB Giáo dục
  7. Trương Thông Tuần, 2000, Đặc trưng ngôn ngữ văn hóa trong Luật tục Êđê (Luận văn thạc sĩ).
  8. Trương Thông Tuần, 2000, Hệ thống đạt từ xưng hô trong tiếng Êđê (Tạp chí Ngôn ngữ & đời sống – số 11 (61) 2000.                                                                              
VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)

Thông tin tác giả