GIẢI THƯỞNG VĂN HÓA PHAN CHÂU TRINH 2009 

Inrasara nhận Giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh 2009

Ngày 24-3-2010, tại Trung tâm Hội nghị Quốc tế, 11 Lê Hồng Phong – Hà Nội, Giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh chính thức được trao cho Nhà nghiên cứu Inrasara về lãnh vực nghiên cứu. Cùng nhận Giải thưởng với Inrasara còn có bốn học giả, dịch giả, nhà giáo dục khác là:

– Lĩnh vực Dịch thuật: Dịch giả Phạm Vĩnh Cư và dịch giả Lê Anh Minh.
– Lĩnh vực Giáo dục: Tiến sĩ tâm lý giáo dục Hồ Ngọc Đại.
– Lĩnh vực Việt Nam học là nhà dân tộc học Georges Condominas (Pháp).
Đây là Giải thưởng hàng năm do Hội đồng Khoa học uy tín xét chọn.

Về các công trình nghiên cứu của Inrasara, nhà văn Nguyên Ngọc, Chủ tịch Hội đồng Khoa học nhận định:

“Chúng ta rất vui mừng chào đón một nhà nghiên cứu trẻ người Chăm, anh Inrasara, người đã tìm một con đường riêng chưa được khai phá bao nhiêu ngoài những con đường thường được tập trung để tìm về văn hóa Chăm là khảo sát các di tích kiến trúc nổi tiếng và các bi ký kỳ thực không còn lại được nhiều. Suốt mấy chục năm nay Inrasara công phu và kiên trì xoi một lối đi khác: Anh tìm về văn hóa Chăm qua văn học dân gian truyền miệng và cả văn học viết Champa, từ cổ đến cận đại và hiện đại, và đến nay đã phơi lộ được một kho tàng khổng lồ hết sức quý. Kho tàng ấy lại được soi rọi trong phân tích và giải mã dưới ánh sáng của những lý thuyết hiện đại và cả hậu hiện đại mà anh luôn tự trang bị cập nhật cho mình. Chúng tôi nghĩ những đóng góp của Inrasara là to lớn, dù anh vẫn khiêm tốn coi chỉ mới là những bước đầu. Đóng góp đó đã giúp chúng ta hiểu thêm về một nền văn hóa từng rực rỡ, không chỉ ngày nay là một bộ phận khắng khít của nền văn hóa đa dân tộc Việt Nam, mà trong suốt lịch sử đã ảnh hưởng rất sâu sắc lên chính văn hóa Việt”.

Nguyên Ngọc, Trích đoạn Diễn văn bế mạc Giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh, 

Tagalau xin chia sẻ với nhà thơ – học giả Inrasara niềm vinh dự lớn này.

 

GIẢI THƯỞNG DÀNH CHO SỰ KHÁC LẠ

Diễn từ đọc tại Lễ trao Giải thưởng Phan Châu Trinh, Hà Nội, 24-3-2010. 

Kính thưa Hội đồng Giải thưởng!

Kính thưa quý vị!

Tôi đến từ miền đất quen mà lạ, ở đó đang tồn tại một nền văn hóa khá khác lạ. Nền văn hóa khác lạ của dân tộc có một lịch sử bi thương. Dân tộc đó ngày nay đang sống khiêm cung tại các tỉnh miền Trung của đất nước Việt Nam. Sau hai trăm năm bị bỏ quên, nền văn hóa văn minh của dân tộc ấy tưởng đã bị thời gian vùi lấp hay bị chìm khuất dưới đêm mờ lịch sử, nhưng không – nó vẫn còn đó. Nó có mặt, và đợi những bước chân thiện chí đến đánh thức. Đã có nhiều bàn chân như thế dọ dẫm bước tới, hơn thế kỉ qua. Để nền văn hóa kia ngày càng lộ hiện dần khuôn mặt khác lạ độc đáo của nó.

Chính các khác lạ như thế làm nên sự phong phú đa dạng của nền văn hóa.

Đây là phần thưởng dành cho sự đóng góp khác lạ ấy, chắc chắn thế. Hôm nay, tôi xin nói lời tri ân sâu xa nhất đến các vị trong Hội đồng Giải thưởng, những người quan tâm vấn đề tôi quan tâm, biết đến và ghi nhận vài thành tích chập chững đầu tiên của tôi trong những bước khai phá. 

Kính thưa quý vị!

Bản sắc cùng với truyền thống có lẽ là khái niệm được sử dụng nhiều hơn cả, khi nhắc tới văn hóa, thời gian qua. Nhưng thế nào là bản sắc? Bản sắc là cái KHÁC của nền văn hóa/ dân tộc này so với nền văn hóa/ dân tộc kia.

Cái khác biệt rõ nhất giữa Chăm và Việt là ngôn ngữ. Cùng với bốn dân tộc anh em là Churu, Êđê, Giarai và Raglai, tiếng Chăm thuộc ngữ hệ Nam Đảo, còn Kinh thuộc nhóm Việt – Mường. Tiếng Chăm góp vào kho tàng ngôn ngữ Việt Nam xưa và nay không phải là ít. Nhưng cái cốt tủy làm nên sự khác biệt lớn chính là văn minh. Ngay từ những năm đầu thế kỉ đầu tiên sau Công nguyên, trong khi Chăm tiếp nhận nền văn minh Ấn Độ thì Đại Việt nhận ảnh hưởng từ Trung Hoa. Trong quá trình lịch sử, qua xung đột, tiếp xúc và tiếp biến văn hóa giữa Champa và Đại Việt, người Chăm đã để lại bao nhiêu dấu tích khắp đồng bằng Bắc Bộ và suốt dải đất miền Trung.

Dòng máu nhân Chăm lưu lại ở Yên Sở, Đắc Sở đến nay vẫn chưa mất dấu. Mai Hắc Đế có cha là người Chăm, mẹ Việt. Rồi từ Thanh Hóa trải suốt tận Khánh Hòa, ai biết được bao nhiêu thế hệ người Việt mang dòng máu Chăm?

Trong triều đình nhà Lí, không ít vua quan Việt say mê điệu “Chiêm Thành âm”. Điệu Nam Ai Nam Bình ở Huế, hay Hát Bội ở Bình Định hoặc đi vào trong, ca vọng cổ ở miền Tây Nam Bộ… ít nhiều đều mang âm hưởng Chăm.

Lúa Chiêm từ Champa nhập vào Việt Nam từ thế kỉ thứ mười, là chuyện rõ rồi. Người Chăm còn du nhập và thuần hóa các loại cây trồng như khoai, mía, bông; đã hình thành và truyền lưu các vùng đặc sản như khoai Trà Đóa, mía Quảng Ngãi, bông Điện Bàn…

Tháp Bảo Thiên ở Hồ Hoàn Kiếm là do tù binh Chăm xây dựng. Tượng Garuda ở chùa Châu Lâm, quận Ba Đình; Chùa Mía ở xã Đường Lâm, huyện Ba Vì hay Chùa Đinh Xá ở xã Đinh Xá, huyện Kim Bảng hoặc tượng bà chúa Liễu thấp thóang hình bóng thần Thiên Y trong ngôi đền ở Thanh Hóa hay dấu tích ở vùng Thạch Thất, Hoài Đức phía tây Thăng Long và vùng Bắc Ninh, Bắc Giang của Bà Chúa Lẫm. Cùng bao nhiêu dấu tích khác còn chưa được khảo cổ học nhớ tới! 

Chúng đã được người Việt thâu thái tạo nên những biến thể độc đáo. Hòa quyện nhưng vẫn giữ được nét khác biệt.

Hôm nay, nhắc đến Chăm, đa số nhắc đến một nền kiến trúc kì vĩ, một nền điêu khắc đặc sắc, hoặc truyền thống ca – múa – nhạc dân tộc, các lễ hội dân gian, dệt thổ cẩm hay chế tác gốm… Và, không gì khác. Nhưng, dân tộc có bia chữ Phạn, có chữ viết bản địa sớm như Chăm, lẽ nào họ không là gì cả trong văn chương? Lướt qua mấy công trình văn học sử Việt Nam, đâu là mảnh đất dành cho văn học Chăm? – Không chương nào, thậm chí không dòng nào. Đó là sự lạ. Vậy thì còn đâu tính toàn vẹn của văn học Việt Nam?

Văn chương không chủ ở số lượng. Nếu người viết Chăm hiện thời sáng tác thêm một sử thi Akayet Dewa Mưno hay một trường ca Ariya Glơng Anak mới, thì văn chương Chăm chẳng vì thế mà lớn hơn. Ngược lại với Chăm, nếu dân tộc này góp thêm một Truyện Kiều hay một Hồ Xuân Hương mới, nó chẳng có tác động tích cực nào đến phát triển văn học Việt Nam cả!

Vấn đề là cái KHÁC. Vậy Chăm có cái gì khác?

Không kể truyện cổ hay truyền thuyết, ca dao hay tục ngữ; cũng chưa kể tới các trường ca triết lí như Ariya Nau ikak (Thơ Đi buôn) hay các trường ca thế sự như Ariya Ppo Parơng, riêng về hình thức, thể ariya Chăm như lục bát Việt, linh hoạt trong cấu trúc, nên khả năng sáng tạo rất lớn. Đừng nói ai có trước hay ai vay mượn ai, trong khoảng mù mờ của lịch sử. Do cấu trúc ngôn ngữ khác nhau (đa hay đơn âm tiết là một trong những), nên lối phát triển hai dòng thơ đã có khác biệt nhất định; từ đó nó làm đa dạng thơ ca tiếng Chăm lẫn tiếng Việt.

Về nội dung đề tài: 250 minh văn Champa được sáng tác từ thế kỉ thứ ba đến thế kỉ thứ mười lăm bằng cả tiếng Phạn lẫn tiếng Chăm cổ là cái được kể đầu tiên. Ba Sử thi – Akayet Chăm có xuất xứ từ/ mang âm hưởng Mã Lai/ Ấn Độ được viết vào thế kỉ XVI – XVIII, là sáng tác thành văn đặc trưng Chăm, một hiện tượng không có trong văn học sử Việt Nam. Nữa, khác với các dân tộc anh em ở Tây Nguyên như Êđê hay Bana,… sử thi Chăm được văn bản hóa từ thế kỉ mười sáu. Các Trường ca – Ariya trữ tình nổi tiếng mà nội dung mang chở sự đối kháng quyết liệt giữa Hồi giáo – Bà-la-môn giáo dẫn đến đổ vỡ và cái chết, cũng là một dị biệt khác.

Như vậy, bên cạnh kiến trúc và điêu khắc, phong tục tập quán cùng ca-múa-nhạc,… văn chương và ngôn ngữ ít nhiều đã được biết đến. Còn bao nhiêu mảnh vụn khác nữa của nền văn hóa văn minh phong nhiêu kia đang bị lãng quên?! 

Kính thưa quý vị!

Một chàng trai nhà quê khởi đầu cuộc đi vào lòng văn hóa dân tộc “từ bàn chân trần trắng, từ con số không, từ con số âm – có lẽ”. Không miếng tư liệu, không mảnh bằng, túi rỗng không, còn mục tiêu thì xa hun hút. Hơn nửa đời hư, chàng trai ấy hôm nay đứng ở diễn đàn này để nhận phần thưởng cao quý từ quý vị. Tôi nghĩ phần thưởng không chỉ dành cho cá nhân tôi với vài thành tích khiêm tốn đạt được mà hơn thế, nó còn là tiếng nói khích lệ các thế hệ sắp tới. Bằng tri thức mới, nhiệt tâm và nỗ lực mới, họ sẽ đi những bước đi mới, không kém trắc trở và gian nan, với hi vọng làm sống dậy nền văn hóa văn minh kia, như là một cách bảo tồn bản sắc dân tộc, góp phần vào đa dạng hóa nền văn hóa Việt Nam, rộng hơn – văn hóa nhân loại. 

Xin cảm ơn và kính chào quý vị.

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)

Thông tin tác giả Tagalau