Thời Trần, quan hệ Đại Việt – Champa đã thay đổi đáng chú ý, gắn bó và hòa hợp mật thiết với nhau. Cùng đoàn kết đấu tranh chống lại xâm lược tàn bạo của đế quốc Nguyên – Mông, họ đều ý thức rằng đó là kẻ thù chung của khu vực nên đã kiên quyết một lòng đấu tranh đánh đuổi quân giặc ra khỏi bờ cõi đất nước, giành lại hòa bình cho lãnh thổ mỗi nước.
Xuất phát từ những mối quan hệ đó, nhằm thắt chặt tình bang giao hữu nghị lâu dài, vua Trần đã đi xa hơn nữa, bằng việc môi giới cho Chế Mân (Jaya Simhavarman III) là vua Champa sánh duyên với Huyền Trân nàng công chúa Đại Việt.
Theo Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục (quyển VIII), vào tháng 3 năm Tân Sửu (1301), hiệu Hưng Long thứ 9, đời vua Trần Nhân Tông, lúc bấy giờ Đức Thượng hoàng là Trần Nhân Tông đã truyền ngôi cho con ở núi Yên Tử, muốn lịch lãm khắp núi sông thiên hạ, nên mới du phương rồi sang Chiêm Thành. Ngài rất thích thú với đất nước kỳ diệu này, nên đã lưu lại hơn nửa năm trời để thưởng ngoạn và tìm hiểu phong tục tập quán của dân tộc Chăm. Cảm kích trước tài năng lỗi lạc của Chế Mân và tinh thần hiếu khách của đất nước Champa, để thắt chặt tình hòa hiếu giữa hai nhà nước, Trần Nhân Tông đã hứa gả Công chúa Huyền Trân cho vị vua phương Nam là Chế Mân.
Mãi đến tháng 6 năm Bính Ngọ (1306) tức 5 năm sau, Chế Mân dâng hai châu Ô và Lý làm sinh lễ. Huyền Trân Công chúa chính thức lên xe hoa về nhà chồng. Xin nói rõ là lúc bấy giờ Chế Mân đã có vợ chính thức người xứ Java – hoàng hậu Tapasi. Khi về Chiêm Thành, Huyền Trân Công chúa được phong chức Paramecvari.

Lâu nay cứ mỗi lần nhắc đến chuyện Huyền Trân Công chúa sang Chiêm Thành làm vợ Chế Mân, chúng ta thường liên tưởng đến những câu ca dao mà người đời sau thêu dệt cho có chuyện để nói như:
“Tiếc thay cây quế giữa rừng
Để cho thằng Mán thằng Mường nó leo”
Hay
“Tiếc thay hạt gạo trắng ngần
Đã vo nước đục lại vần lửa rơm”
Mấy câu ca dao mang tính phê phán này làm cho chúng ta phải suy nghĩ. Có phải thực tế vua Chế Mân là “thằng Mán”, “thằng Mường” hay “nước đục” như lời ca dao ấy không? Chúng tôi không ngại dông dài khi phác họa vài nét về chân dung cũng như sự nghiệp của Chế Mân.

Chế Mân (Jaya Simhavarman III), làm vua được 19 năm (1288-1307). Là vị vua tài năng lỗi lạc, nổi tiếng khắp vùng Đông Nam Á. Tiếng tăm của ông đã đến tại Thượng hoàng nhà Trần, một người mà Trúc Lâm Đại Sĩ Nhân Tông đã rất có cảm tình từ 18 năm trước. Khi đó, Chế Mân còn là một thái tử trẻ tuổi nhưng đầy dũng cảm, tài ba và mưu lược. Chúng ta nên nhớ rằng vua cha Trần Nhân Tông là một người đứng đầu phái Trúc Lâm, đạo hiệu là Trúc Lâm đại sĩ.
Vậy việc ông gả Huyền Trân Công chúa cho Chế Mân không phải vì được Chế Mân tôn kính, hậu đãi. Đãi một nhà sư khổ hạnh thì phải thế nào gọi là hậu? Sở dĩ có việc này là do lòng cảm phục của Thượng hoàng đối với Chế Mân là một vị vua trẻ tài ba. Cảm tình này đã nhen nhúm trước đó, kể từ năm 1283 là năm Chế Mân đã anh dũng lãnh đạo nhân dân Champa đứng lên chống quân Nguyên Mông. Lúc đó, vua Trần đã phái 2 vạn quân và 500 chiếc thuyền sang tiếp viện cho Chế Mân. Nên khi sang Champa, được việc gần gũi Chế Mân, tận mắt chứng kiến những việc làm của Chế Mân, Trần Nhân Tông quyết định gả con gái mình cho người vị vua trẻ Champa. Con mắt xét người của Trúc Lâm đại sĩ không phải nhầm lẫn, trải qua một thời gian dài cân nhắc kỹ lưỡng nên mới đi đến quyết định một việc tối quan trọng này. Giữa một bên là vua của một nước hùng mạnh, tài ba lỗi lạc, sánh duyên với một Công chúa sắc đẹp tuyệt trần hẳn là đôi uyên ương đẹp đôi vừa lứa, môn đăng hộ đối. Nhưng tiếc thay con mắt “cận thị” của người đời không thấu suốt sự việc, nhìn vấn đề một cách phiến diện, không khách quan, thêu dệt cho nhiều để tiện việc viết kịch và cải lương!
Chẳng bao lâu, sự việc đã thay đổi sau gần một năm chung sống với nhau, Chế Mân bị mệnh yểu (1307), Công chúa Huyền Trân được triều đình Champa cho phép trở về quê cha. Không phải như các tài liệu đã viết, theo phong tục Chăm, khi vua chết hoàng hậu phải lên giàn hỏa thiêu là không chính xác, đấy không phải là phong tục, mà việc đó chỉ là thể hiện lòng chung thủy, tình sâu nghĩa nặng đối với người chồng mà thôi. Nên Công chúa không lên giàn hỏa thiêu, mà được trở về quê cha là điều không cần phải bàn. Ở đây không có chuyện anh hùng Trần Khắc Chung dùng mưu lược để chiếm Công chúa.

Xung quanh mối tình sử có một điều mà chúng ta cần phải minh định lại. Có ý kiến cho rằng Chế Đa Da là con của Huyền Trân với Chế Mân. Điều này là thiếu cơ sở, bởi đám cưới Huyền Trân và Chế Mân diễn ra vào tháng 6 năm 1306, mà tháng 5 năm 1307 Chế Mân mất. Vì vậy, nếu Công chúa có con với Chế mân thì hoàng tử lúc này chỉ mới một tháng tuổi, trong khi vua kế tục Chế Mân (tức Chế Đa Da) lúc ấy đã 33 tuổi. Đấy là việc hoàn toàn sai sự thật, cần phải đính chính lại.
Tóm lại, qua mối tình sử này, quan hệ tốt đẹp giữa Đại Việt và Champa được hàn gắn, thắt chặt hơn. Lịch sử hai nhà nước đã có bước phát triển mới. Nhưng tiếc thay lịch sử mỗi thời mỗi khác, nên kéo theo việc nhìn nhận vấn đề diễn biến theo thời cuộc. Nên việc khen hay chê, mỉa mai hay thương xót, tất cả dư luận trên chỉ là “bia miệng”. Đối với người viết bài này chỉ có mong muốn có một sự khách quan trong quá trình nhìn nhận vấn đề lịch sử… Người đời sau vẫn khắc ghi tên tuổi của nàng Công chúa Huyền Trân xinh đẹp đã có công trong mối quan hệ Chăm – Việt tốt đẹp này.

Ngày nay, vương quốc Champa đã không còn nữa, trở thành một bộ phận nước Việt Nam thống nhất, tộc người Chăm cũng đã hòa nhập vào cộng đồng dân tộc anh em, cùng hòa thuận, bình đẳng với nhau xây dựng nước Việt Nam văn minh tiến bộ.

*
Trong Tagalau1.

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)

Thông tin tác giả