Đây là đối tượng nghiên cứu của dân tộc học, thế nhưng đến hôm nay vẫn chưa có một công trình hay thậm chí bài viết nghiên cứu thấu đáo về đề tài này. Bài viết Tìm hiểu về HỌ của người Chăm của Chế Vỹ Tân (Tagalau4, 2004, trang 109-110), chỉ như một gợi ý. Ở đây, người viết muốn triển khai thêm đề tài mới này, trong phạm vi hiểu biết hạn hẹp của mình. Nêu các “loại họ” xưa, nay của Chăm như là một cung cấp tư liệu cho độc giả, đồng thời để bà con cùng tham khảo, từ đó có cơ sở chọn lựa, chứ không bình luận.

1.     Họ xưa:

       Họ “xưa” của các vua Champa, gồm có:

INDRA / Indravarman, JAYA / Jaya Sinhavarma, CRI / Cri Satyavarman,

MAHA / Maha Vijaya, RUDRA / Rudravarman, PUDRA / Pudravarman…

       Hôm nay các họ này vẫn còn được một số người sử dụng:

INRA / Inra Patra (là biến thái của Indra): nhân vật chính trong Akayet Inra Patra.

Jaya Mrang, Jaya Panrang; Inrasara; Pudradang,…

       Các họ này được phiên âm ra tiếng Hán, thành:

–      CHẾ / (có lẽ do Cri): Chế Mân, Chế Củ,…

Hôm nay ta có: Chế Quốc Minh, Chế Lan Viên, Chế Linh,…

–      ONG (hay Ông): Ông Ích Khiêm (nhân vật trong lịch sử Việt), Ông Văn Quát (cựu phó chủ tịch tỉnh Thuận hải cũ),…

Hôm nay: Ông Văn Tùng (nhà văn),…

–      MA có lẽ phiên âm từ MAHA.

Ví dụ như: Ma Văn Kháng (nhà văn người Kinh)

Người Chăm ngày nay không còn dùng hai họ này đặt tên họ cho mình nữa.

–      TRÀ / (có lẽ do từ Jaya mà ra): Trà Toàn, Trà Hòa Bố Đế,…

Ở Quảng Nam có tộc TRÀ vẫn còn giữ sinh hoạt dòng tộc. Họ luôn nhận mình là Chăm: Trà Công Tân, Trà Toại,. .. Riêng tại Ninh Thuận, người viết Chăm vẫn thích dùng Trà làm “họ” bút danh: Trà Vigia, Trà Ma Hani,…

       Theo Nguyễn Văn Luận, 4 họ này: Ông, Ma, Trà, Chế chỉ dành cho vua, dân chúng không được mang (Người Chàm Hồi giáo Miền Tây Nam phần Việt Nam, Nxb. Giáo dục và Thanh niên, Sài Gòn 1974, tr. 116). Thế nhưng, trong thực tế vẫn có người dùng “họ” này làm khai sinh hay bút hiệu, như trên đã dẫn chứng.

2.     HỌ Chăm bình dân:

       Thường thì người Chăm cứ JA (nam) hay (nữ) trước tên, như VĂN hay THỊ của người Việt vậy. Tất cả, không phân biệt, cho đến khi đối tượng thành người lớn, xây dựng gia đình hay có vai vế trong xã hội, họ mới được gọi theo vai vế hay chức danh. Có lẽ ngày xưa, các thứ dân Chăm đều mang chung HỌ ấy (có lẽ thôi, bởi chúng tôi vẫn chưa có cứ liệu minh chứng cụ thể). Thời gian gần đây người ta ít có khuynh hướng đặt họ mình như thế, bởi nghĩ rằng nó “bình thường” quá. Thế nhưng, vẫn có người thích lấy nó làm họ cho bút danh mình: Jamưtaharei (nhà nghiên cứu Thiên Sanh Cảnh), Jalau (thi sĩ Trượng Văn Lầu),… Vẫn đẹp và sang trọng đấy chứ!

3.     HỌ Chăm theo dòng tộc:

       Ở đây chúng ta đang bàn về “họ” được dùng đặt tên, chứ không phải “họ” theo huyết thống tộc mẹ, như bên Chăm Ahier (Kut) hay Chăm Awal (Ghur). Thế nhưng ta cũng nên bàn qua để tham khảo.

       Người Chăm có dòng họ được đặt theo tên vua: họ Po Rome, họ Po Gihluw,… (Xem Nguyễn Văn Tỷ, bài đã dẫn); hoặc đặt theo tên loài cây trụ trong Kut chính: họ Gađak (họ mẹ của Inrasara ở làng Mỹ Nghiệp, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận), họ Mil Pui (tức Amil Apwei/Cây me lửa) ở Hữu Đức,…

       Chú ý: Chăm không dùng họ này đặt HỌ tên riêng.

4.     Họ/tên đặt theo tôn giáo (Islam):

       Khía cạnh này tôi không có thẩm quyền, chỉ tóm lược ý chính của Nguyễn Văn Luận trong chuyên luận vừa nêu. Thường do sự tiên đoán tương lai của con mà người cha chọn một trong 25 vị thánh Hồi giáo đặt tên. Con trai là: Ali, Ibrohim, Mousa, Ysa,.. Con gái là: Fatima, Khodijah, Maryam,…

       Như thế rất dễ xảy ra sự trùng lặp giữa người này và người khác. Người Ả Rập giải quyết vấn đề này bằng lối đặt tên đứa trẻ nối tiếp bằng tên của cha: Ahmad ben Mahammed; ở Iran là: Ahmadan,…nghĩa là: Con của Ahmad. Ở Việt Nam, bà con Chăm đặt tên con bằng cách nối tiếp tên thánh với tên Việt: Fatimari Kim Phụng, Fatimari Him Hoa,…

5.     Họ Chăm trong Giấy khai sinh ngày nay:

       Nguyễn Văn Luận: “Vào năm Minh Mạng thứ 14, triều đình Huế bắt người Chàm phải theo phong tục Việt nam. Họ phải chọn lấy một trong những tên họ đọc theo ngôn ngữ Việt Nam, gồm có: Bá, Đàng, Hứa, Lưu, Lựu, Hán, Lộ, Mã, Châu, Ngụy, Từ, Tạ, Thiên, Ức, Vạn, Ưng, Lâm, Hải, Báo, Cây, Dương, Quảng, Qua, Trượng, Tưởng, Lư.”

       Đây là họ phổ biến nhất trong Chăm gần 2 thế kỉ qua. Nên nhớ rằng đây là các họ Minh Mạng đặt cho Chăm, chứ không phải “truyền thống”.

 

       Tóm lại, Chăm có 5 loại HỌ chính như vừa nêu, chúng ta nên chọn hướng nào? Cũng tùy quan niệm hay / dở nữa!…

VN:F [1.9.22_1171]
Rating: 0.0/10 (0 votes cast)
Inra Sara

Thông tin tác giả Inra Sara

Nghiên cứu văn hóa Chăm; làm thơ, viết văn, dịch & viết tiểu luận - phê bình văn học. Hội viên – Hội Nhà văn Việt Nam – Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam – Hội Văn học - nghệ thuật các Dân tộc thiểu số Việt Nam.